LÀM GÌ ĐỂ CÔNG GIÁO ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC (PHẦN 1)

Thursday, October 23, 2014 0 comments



Mõ Làng: Tiếp sau chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đến thăm và hội kiến Giáo hoàng Francis.  


Giáo hoàng Francis hoan nghênh việc thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đạt nhiều kết quả của Việt Nam và khẳng định, Tòa thánh Vatican luôn chủ trương phát triển quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, tiếp tục ủng hộ Giáo hội Công giáo Việt Nam tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Giáo hoàng Francis nhấn mạnh phải thực hiện tốt hơn nữa đường hướng "sống Phúc âm giữa lòng dân tộc," "giáo dân tốt phải là công dân tốt," "người Công giáo Việt Nam phải đồng hành cùng dân tộc Việt Nam xây dựng đất nước ấm no, hạnh phúc," "người Công giáo Việt Nam phải là người yêu nước."

Vậy nhưng, quan sát trong mấy năm gần đây, một số tổ chức giáo hội, giáo sĩ và giáo dân Công giáo đã có những hoạt động đi ngược lại lợi ích dân tộc, chống đối nhà nước. Điều đó chứng tỏ chưa có sự đồng thuận về tư tưởng giữa Giáo hội và Nhà nước.

Để cho Giáo hội Công giáo thực sự đồng hành cùng dân tộc, cần phải có nỗ lực từ hai phía Nhà nước và Giáo hội. Nhân đây, xin giới thiệu bài viết của GS.TS Đỗ Quang Hưng về vấn đề "Công giáo và dân tộc ở nước ta trong bối cảnh đất nước quá độ đi lên CNXH".

                                        *****
Khi nghiên cứu đời sống Công giáo ở nước ta hiện nay, có thể nói vấn đề Công giáo và Dân tộc vẫn là một trong những vấn đề cơ bản nhất. 

Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, khi đất nước đã thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, nói đúng hơn là bước vào chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1996 đến nay, cả dân tộc ta đang tiến mạnh trên chặng thứ hai của thời kỳ quá độ XHCN, đó là giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà Đại hội X (2006) của Đảng ta dự kiến sẽ kéo dài đến 2020. 

Nếu so với giai đoạn cách mạng Dân tộc Dân chủ, chuyển qua giai đoạn cách mạng XHCN, theo chúng tôi, nội dung và sự biểu hiện của mối quan hệ giữa Công giáo và Dân tộc, mặc dù có những thay đổi to lớn nhưng vẫn giữ những “mẫu số chung” của vấn đề. 

Bài này, bước đầu chúng tôi muốn làm rõ vấn đề, những chuyển biến của mối quan hệ ấy, với một số nội dung sau: 

1. Đặc điểm của mối quan hệ Công giáo và Dân tộc ở nước ta. 

2. Kitô giáo và chủ nghĩa Mác, cái nhìn mới về lý thuyết. 

3. Công giáo và Dân tộc ở nước ta trong bước đi đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. 

4. Mấy vấn đề phía trước. 

Dưới đây, chúng tôi lần lượt đi vào những nội dung đó. 


* * 

1. Đặc điểm của mối quan hệ Công giáo và Dân tộc ở nước ta 



a) Sau nhiều thế kỷ truyền giáo, đến 1997, số tín đồ Công giáo ở châu Á là 103.230.000 người, chiếm 2,9% dân số châu lục. Còn Tin lành khó có con số chính xác, ước tính khoảng 1%. Như vậy số Kitô hữu ở châu Á có số lượng tương đương với châu Phi, trong khi dân số ở đây đông gấp 5 lần. 

Đặc điểm chung của Cộng đồng kitô hữu ở Châu Á, như nhận xét của C. Prudhomme và J.F.Zorn là “một cộng đồng thiểu số mong manh, dễ rạn vỡ, nhưng lại có tầm quan trọng đáng kểvới Giáo hội”[1]

Còn có nhận xét rằng: Cộng đồng nhỏ bé ấy, để có thể tồn tại, thường phải co cụm lại trong môi trường đối nghịch về văn hoá, về tôn giáo lại là nơi đa số dân chúng thuộc về Phật giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo ... 

Các cộng đồng Kitô ấy, trừ Philippin là một ngoại lệ, vì thế, như đứng ngoài lề (marginale), khiến A. Forest dùng hình ảnh “tế báo hoá” (l’encellulement) để mô tả chúng, với một kích thước vừa đủ để tự sinh sản trong thế sống khép mình. 

Lẽ di nhiên không phải ở nước nào thuộc Châu Á cũng vậy. Hai tác giả trên đi đến một nhận xét đáng chú ý: “Những vấn đề đặt ra sau chiến tranh thế giới thứ II, trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa Cộng sản và những điều kiện chính trị xã hội bất lợi khác đã đặt phần lớn các Giáo hội Kitô ở Châu Á phải thích nghi với cơ cấu được kế thừa từ thời kỳ truyền giáo. Tất cả phải học cách thoả hiệp với môi trường chính trị, xã hội và văn hoá, các học thuyết tôn giáo hoặc triết học vốn rất khác biệt với truyền thống Kitô giáo” (C.Prudhomme, J.F. Zorn, đã dẫn, tr. 669). 

Nhưng cũng phải nói rằng, dù sao, trong mối quan hệ Nhà nước và các Giáo hội Kitô giáo ở Châu Á, cuối cùng cũng có được một “chiến thắng sự nghi ngờ đối với một tôn giáo ngoại nhập”[2], như nhận định của 2 tác giả trên. Ở Trung Quốc từ 1982, Việt Nam (1990), Campuchia 1993, Lào 1997… với những chuyển biến mạnh về luật pháp liên quan đến quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng đã tạo nên cục diện mới mẻ này. 

b) Đối chiếu với tình hình cộng đồng Công giáo ở Việt Nam, chúng tôi muốn đề cập một số đặc điểm chính sau đây của mối quan hệ Công giáo và Dân tộc: 

- Thứ nhất, du nhập gần như trùng khít với quá trình thăm dò và xâm chiếm thuộc địa, cũng giống như nhiều xã hội châu Á, đạo Công giáo hay ít nhất ở một bộ phận quan trọng là giới chủ chăn không thể tránh khỏi bị lên án là dính líu, đống lõa với chủ nghĩa thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. 

Mặt khác, Việt Nam lại là nước đi đầu trong giải thể chủ nghĩa thực dân cũ (Pháp) và mới (Mỹ), cũng lại là nước kiên định mục tiêu CNXH vì thế mối quan hệ Công giáo và Dân tộc luôn diễn ra trên nền bối cảnh lịch sử lâu dài nhiều xung đột, xen lẫn không ít nghịch lý. Vì thể, mối quan hệ Dân tộc và Công giáo đến nay vẫn là mối quan hệ nổi bật trong quan hệ Đạo - Đời. 

- Thứ hai, nếu xét mối quan hệ này trong tổng thể quan hệ Nhà nước - Giáo hội thì Việt Nam cũng là trường hợp phong phú, phức tạp bậc nhất ở châu Á. 

Tôi không đồng ý với quan điểm cho rằng: Ở Việt Nam, thực chất vấn đề dân tộc là xung đột Công giáo với các Nhà nước phong kiến và sau đó là xung đột Công giáo - Cộng sản! 

Quan hệ Công giáo và Dân tộc, Công giáo và Cộng sản ở Việt Nam 1954 - 1975 là một trường hợp hy hữu. Một bản đồ địa - Công giáo thay đổi hoàn toàn, tập trung đến 7/9 giáo hữu ở miềm Nam và chính quyền Ngô Đình Diệm là một chế độ dựa trên Công giáo, kỳ thị tôn giáo và chống Cộng sản. 

Khung cảnh chính trị - xã hội ấy, khiến cho mối quan hệ Công giáo - Dân tộc ở nước ta còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác, tôn giáo xen lẫn ý thức hệ chính trị, văn hoá và tâm lý. 

- Thứ ba, nhưng Việt Nam lại không phải Philippin. Một đất nước mà chủ nghĩa dân tộc “như một động lực lịch sử” (Nguyễn Ái Quốc, 1924). Vì thế, mọi tầng lớp xã hội, mọi tôn giáo, dù thế nào cũng biết gìn giữ và phát huy “căn tính dân tộc”. Dù bị xô đẩy vào phía đối lập với phong trào dân tộc, trong công đồng giáo hữu, không khi nào chấm dứt phong trào yêu nước, đến nỗi có ý kiến chí lý rằng “Đồng hành với dân tộc” có lẽ là nét nổi trội trong thần học Công giáo ở Việt Nam. 

Ngay ở những trạng huống mang tính bi kịch, cuối thế kỷ XIX, khi các Văn thân yêu nước đồng nhất việc Bình Tây với Sát Tả, thì cũng không vì thế thổi bùng lên cuộc “chiến tranh tôn giáo” mà ở một số quốc gia, trong điều kiện tương tự đã xảy ra. 

Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là một mẫu số chung, một động lực để người Việt Nam, Kitô hữu hoặc ngoài Kitô hữu giải quyết những xung đột, khúc mắc và hướng đến những mục tiêu chung, lớn lao liên quan đến vận mệnh cả dân tộc, đất nước. 

- Thứ tư, khi xét mối quan hệ này trong “môi trường xã hội chủ nghĩa”, Việt Nam cũng lại khác Trung Quốc. Nếu như ở Trung Quốc, cộng đồng Kitô hữu với chính sách Tam tự lập, trở nên “bất bình thường” trong đời sống tôn giáo của cả cộng đồng Công giáo thế giới, nếu không muốn nói tình trạng “hai Giáo hội”. 

Trong khi đó, với Sắc lệnh 234 - SL (14/6/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố quan hệ giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với Toà thành Vatican là “quan hệ nội bộ” mà chính phủ Việt Nam DCCH luôn tôn trọng. 

Sau này, cùng với sự Đổi mới đất nước, khi Đảng tự xác định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc” (Điều lệ, Đại hội IX), thì mối quan hệ Công giáo - Dân tộc trong “môi trường XHCN” ở nước ta càng đậm nét một đặc điểm mới đang lộ rõ: Khi dân tộc trở thành “dân tộc XHCN” thì cộng động Công giáo vẫn hoàn toàn có chỗ đứng xứng đáng. 

Trên đây là một số đặc điểm mối quan hệ Công giáo và Dân tộc ở nước ta. Những đặc điểm ấy có thể soi rọi vấn đề mà chúng tôi đang đề cập. 

2. Kitô giáo và chủ nghĩa Mác, cái nhìn mới về lý thuyết 

Ở nước ta, không có cuộc đối thoại Công giáo và Cộng sản theo nghĩa đen của nó. Nghĩa là những cuộc đối thoại kiểu “Hội nghị bàn tròn” như các cuộc đối thoại ở thập kỷ 60, 70 của những người mácxít Pháp với các trí thức Công giáo. 

Trong những cuộc đối thoại “không chính thức”, nghĩa là qua sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng khác, người ta chỉ thấy chủ yếu là các vấn đề chính rị – tôn giáo, rất ít các vấn đề thuộc địa hạt triết học, thần học. 

Trong những thập kỷ gần đây, trong bối cảnh mới, quan hệ giữa Công giáo và Cộng sản đã có nhiều thay đổi. Đã có những cuộc đối thoại, nghiên cứu từ phía những trí thức Kitô giáo với những người mácxít diễn ra theo những chiều hướng khác, sâu sắc và toàn diện hơn. 

Sau gần 7 thập kỷ đối đầu quyết liệt, dường như cả 2 bên đều quan tâm nghiên cứu về nhau, nghiêm túc hơn, có sự xích lại trên một số phương diện triết học và không cần coi việc loại bỏ nhau là điều kiện tiên quyết. 

Có tác giả đã có được cái nhìn khái quát cuộc đối thoại giữa người mácxít và người Kitô giáo suốt khoảng 70 năm qua. Người ta vẫn khẳng định 4 điểm cơ bản về sự khác biệt giữa 2 khuynh hướng tư tưởng triết học này là: 

· Một nội dung khoa học cơ bản của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó bao gồm sự giải thích hoàn toàn tự nhiên về con đường mà xã hội loài người làm chủ và một viễn cảnh giải phóng mà xã hội con người xây dựng. 

Trong khi ấy, “quan điểm lịch sử” của Kitô giáo nhìn chung lại là của Thiên Chúa trong suốt chiều dài lịch sử và một kết cục lịch sử từ bên ngoài tiến trình tự nhiên của nó. 

· Phê phán và kế thừa Phơbách trong việc coi chủ nghĩa vô thần không chỉ đúng về lôgic, mà còn có ý nghĩa giải phóng con người, thậm chí can dự vào nền chính trị thế tục, xây dựng xã hội loài người phi thần thánh. Trong khi đó, Kitô giáo không thể không coi vũ trụ như quá trìnhtạo dựng của Thiên Chúa. 

· Cũng như Neitzsche và Freud, Mác là “bậc thầy của sự hồ nghi”. Với các nhân vật ấy thì các hệ tư tưởng ngoài khoa học đều là sự phản ánh giai cấp xã hội hơn là sự phản ánh chân lý. Tôn giáo cũng chỉ là một trong những tập hợp tư tưởng ngoài khoa học như thế. 

· Cuối cùng, có một sự đối lập về mặt đạo đức. Chúa Kitô hứa hẹn đưa cái Xấu thành điều Tốt. Còn Mác thì chống lại cái Xấu cả bằng bạo lực khi cần thiết”[3]

Thực ra “4 điều cơ bản của sự đối lập” mà tác giả nêu trên dù sâu sắc, bao quát, nhưng chưa phản ánh hết sự nhận thức về chủ nghĩa Mác của những người mácxít hôm nay. Thí dụ, về vai trò và đặc biệt về quan hệ giữa chủ nghĩa vô thần và các hệ tư tưởng tôn giáo. Tình hình hiện nay cũng không còn sự “rạch ròi”, phủ định nhau như trong điểm thứ hai mà Andrew Collier nêu trên. 

Tuy vậy, cái đáng nói là Andrew Collier sau khi lập sơ đồ phân tích khả năng qui tụ của 2 hệ tư tưởng này, đối chiếu với xã hội tư bản hiện đại, đã đi đến kết luận: chính Kitô giáo và chủ nghĩa Mác có nhiều điểm chung hơn so với chủ nghĩa tự do (Libéralism) hay chủ nghĩa phi tôn giáo mới(Néo- paganism), là những gần gũi với xã hội tư bản hậu công nghiệp hiện nay. 

Tác giả kết luận: “Tôi cố gắng chỉ ra những gì mà những người theo chủ nghĩa Mác và những người Kitô giáo có thể học hỏi lẫn nhau. Tôi không chỉ muốn nói rằng, những người mác xít nên học niềm tin và người Kitô giáo nên học chủ nghĩa Cộng sản và tôi hy vọng vào kết quả đó. Tôi cũng muốn nói rằng, kết quả của sự gặp gỡ ấy sẽ có những người Kitô giáo có thể học hỏi để học làm người Kitô giáo tốt hơn và những người mácxít cũng hỏi để thành người cộng sản tốt hơn”[4]

Trong bối cảnh hiện nay điều này càng có ý nghĩa với chủ đề của chúng ta hôm nay. 

Đương nhiên là chúng tôi luôn nhớ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thập kỷ 30 - 40 khi người đã tìm ra cái mẫu số chung, cái hằng số trong quan hệ Đạo - Đời, quan hệ mác xít và hệ tự tưởng tôn giáo cũng như những ý kiến độc đáo của Fidel Castro ở thập kỷ 70 về sự gần gũi giữa đạo đức của chủ nghĩa Cộng sản và luân lý Kitô giáo của Bài giảng trên núi của Chúa Giêsu Kitô, sự gần gũi cao hơn nhiều so với đạo đức của chủ nghĩa tư bản (xem Fidel bàn về tôn giáo, bản dịch, 1988, NXB TP.Hồ Chí Minh). 

Từ sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ (1990 - 1991), hệ thống XHCN tan rã và lâm vào khủng hoảng, mặc dù vậy, nhiều trí thức Công giáo vấn muốn đi tiếp những suy nghĩ của mình. Nhà xã hội học tôn giáo quen biết người Bỉ, F. Houtart đã có bộc lộ quan điểm của mình về phương pháp “Phúc Âm theo lối Mác”. Khi được hỏi, quan điểm “duy vật” của ông về truyền bá Phúc Âm ấy hôm nay có còn thích hợp, khi hệ thống XHCN đã sụp đổ, F. Houtart vẫn khẳng định rất chí lý: “có chứ!” Với điều kiện đừng biến hệ thống lý luận mác xít ấy thành giáo điều...” 

[5]

Có thể nói, không chỉ từ phía những người mác xít Việt Nam hôm nay, mà từ phía các trí thức Công giáo trên thế giới, vẫn đang chảy một dòng tư tưởng, tìm đến sự gặp gỡ của những giá trị tư tưởng và phương pháp đích thực của hai hệ tư tưởng ấy. Điều đó, hẳn rất có ích cho cái nhìn, cho ứng xử của chúng ta hôm nay.



Các tin khác

CHẲNG CÓ GÌ PHẢI ỒN ÀO KHI ĐIẾU CÀY CHẺ ĐIẾU

Wednesday, October 22, 2014 2 comments


Kính Chiếu Yêu: Đúng như nhận định của Mõ Làng, hôm nay giới ba que đang ồn ào với chào đón Điếu Cày tại Mỹ. Đã có cờ quạt, họp báo, tuyên bố... Mua vui cũng được một vài trống canh mà thôi. Hãy nghe Beo nói về tương lai của Điếu Cày.

XUẤT CẢNH BẰNG GÌ ?


1. Theo dạng cổ điển thì bằng nhồn, bằng sức lao động, bằng tiền….dạng đời mới bằng Chí Phèo.

Chí Phèo là ai? Là anh chửi cả làng cả tổng Vũ Đại nhưng vô hại. Có chăng ồn ào tý giữa đêm, công dụng giúp vài cặp trẻ thức dậy vật nhau make baby, tức làm em bé.

Anh ý tòan tự rạch mặt mình. Xót anh ý, duy mỗi Nở.

2. Việc Blogger Điếu Cày, Nguyễn Văn Hải, xuất cảnh sang Mỹ ko mới ko đột xuất ko bất ngờ. Nó được Mỹ đưa ra cùng thời điểm với Kù con (ba Phèo cả thảy). Nhưng bây giờ, Điếu Cày mới đồng ý đi.

Trong dạng xuất cảnh bằng Phèo này, phải có sự đồng ý của cả 3 bên: Việt, Mỹ, Phèo trong đó, cả hai bên đầu đều tôn trọng tuyệt đối sự đồng ý của Phèo.

Thế nên, Lê Công Định không đi chứ ko phải bị cấm xuất và Nguyễn Văn Hải OK đi chứ không ai trục.

3. Trường hợp của các Phèo, xuất cảnh bằng hộ chiếu Việt nam với thời hạn sử dụng ngắn hơn nhiều so với người bình thường. Hết thời hạn trên, nếu chăm chỉ chửi bới om sòm kiếm cơm, Việt nó không gia hạn tiếp, thi quốc tịch Mỹ chưa xong, nghiễm nhiên Phèo thành công dân thế giới vì ko hộ chiếu của cả hai nước. Với hộ khẩu thẻ xanh, ngọai trừ sang Canada dăm bữa bằng bốn bánh, tòan thể các bữa còn lại nội bất xuất.

Mỹ cũng đỉu: visa của các Phèo nằm trong mã DI DÂN, nhưng lại cũng ko nằm trong diện TỴ NẠN CHÍNH TRỊ. Lý do phải thi khi muốn nhập quốc tịch Mỹ, là vì vậy.

3. Mỹ xin tù Việt sang khai sáng dân chủ có hai lý do: Thứ nhất. Xét thấy anh ta đủ trí tuệ, học vấn và có lý tưởng mà người Mỹ muốn bảo trợ. Top này được hưởng các quy chế đặc biệt của tỵ nạn chính trị. Mọi sự đổi chác (nếu có) cũng chỉ nằm trong diện này.

Nhưng tại sao trong top này Mỹ ko chọn Trần Hùynh Duy Thức, Linh mục Nguyễn Văn Lý (Lý xin nhưng Mỹ từ chối) lại chọn Lê Công Định, đợi Beo phone hỏi Obama, zả nhời sau.Thứ hai. Mỹ nghi ngờ các Phèo bị bạo hành thể xác. Các trường hợp Thành, Thủy, Kù, Cày trong top này.

Mỹ đủ cơm nuôi vài triệu Phèo top nhì, chính chị chính em, dân Việt chúng mày tự xử với nhau.
còn nữa: Beo

Các tin khác

TIN HÓT: HẢI ĐIẾU CÀY - RA ĐI VÌ MỘT GIẤC MƠ MỸ

Tuesday, October 21, 2014 7 comments

Mẹ Đốp
Thông tin về việc Nguyễn Văn Hải - tức Hải Điếu cày xuất cảnh sang Mỹ đã được lan đi với tốc độ chóng mặt. Điều đáng nói là việc ra đi của Hải đang được xem xét ở một khía cạnh khác ngoài tính tự nguyện của cá nhân này; một số Blogger như Trương Văn Dũng, Nguyễn Xuân Diện (Diện Ca trù) đang ra sức thông tin cho rằng: "Chính quyền VN buộc blogger Nguyễn Văn Hải - Điếu Cày đi tỵ nạn chính trị", "Theo 1 nguồn tin đáng tin cậy, hiện nay nhà cầm quyền việt nam đưa anh Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) ra sân bay Nội Bài để xuất cảnh".

Chị Dương Thị Tân (vợ cũ của anh Hải) có nhờ Trương Văn Dũng và các anh chị em ở Hà Nội đến sân bay Nội Bài để hỏi về việc đưa anh Hải ra nước ngoài. Chị cho biết việc chính quyền buộc anh Hải đi tỵ nạn chính trị không báo cho gia đình biết. Sau đó chị Tân xác nhận anh Hải đang lên máy bay" (FB của Trương Văn Dũng cho biết). Thực hư chuyện này ra sao xin được thông tin ngắn và nhanh như thế này. 

1. Nguyễn Văn Hải đã có mặt tại Sân bay Nội Bài (Hà Nội) và hiện đã rời Việt Nam trên một chuyến bay của một hãng hàng không của Mỹ. Đón tiếp và giúp đỡ Hải làm các thủ tục cần thiết để xuất cảnh tại Sân bay Nội Bài có bà Jenifer Neidhart de Ortiz, Tham tán chính trị, ĐSQ Hoa Kỳ tại Hà Nội. 

Qua theo dõi về thái độ Hải tại sân bay không có chuyện Hải phản đối chuyến đi này, suốt quá trình làm thủ tục cần thiết Hải giữ một thái độ im lặng được cho là cần thiết. Hải cũng đã từ chối trả lời phóng viên báo chí đang cố gắng tiếp cận thông tin về Hải trước khi xuất cảnh... Đây được cho là những chi tiết mâu thuẫn hoàn toàn với các cáo buộc nói trên của bạn bè và người thân Hải; nghĩa là nếu đây thực sự là một chuyến đi kiểu "cưỡng ép" thì Hải Điếu Cày sẽ không dễ dàng đồng ý đến vậy và sẽ không có chuyện Hải để yên cho những người đưa mình đi mà không có bất cứ một phản ứng nào. Xuất cảnh ra khỏi quốc gia thì phải có sự tiếp xúc của nơi bảo lãnh, phải ký vào những thủ tục phóng thích, thủ tục xuất cảnh, những cái đó phải có sự chấp thuận của Hải từ trước. Điều này đã giải thích tất cả. 
Bà Jenifer Neidhart de Ortiz, Tham tán chính trị, ĐSQ Hoa Kỳ tại Hà Nội có mặt ở sân bay Nội Bài.

Nguyễn Văn Hải được cho là người mặt áo phông màu kem, đứng giữa người mặc áo xanh và áo đỏ, hàng đầu tiên.
Cách đây độ một tháng trên các trang mạng xuất hiện thông tin (từ Nguyễn Trí Dũng - con trai Hải Điếu Cày) về việc hoàn thành các khoản án phí để xem xét. Trại giam Số 6 - Bộ Công an (Thanh Chương, Nghệ An) yêu cầu Hải viết đơn xin ân xá để thuộc diện được xét Đặc xá nhân dịp 2.09.2014 nhưng gia đình Hải đã từ chối. Và đương nhiên, Trại giam số 6 đã chiểu theo luật và Hải đã không thuộc diện đặc xá. Điều này cho thấy sự cứng đầu và thái độ bất chấp, cố tình hiểu sai bản chất vấn đề của Hải và gia đình. Cho nên, nếu có một chuyến đi như được thông tin - "cưỡng ép", "tỵ nạn chính trị" thì liệu Hải có yên ắng và "cam chịu" đến thế không?

2. Việc có mặt của bà Jenifer Neidhart de Ortiz, Tham tán chính trị, ĐSQ Hoa Kỳ tại sân bay Nội Bài cũng được cho là một tín hiệu dễ hóa giải. Bởi, thông thường việc cho một phạm nhân đang trong thời gian chấp hành án phạt tù như Nguyễn Văn Hải được xuất cảnh sang nước khác (trong trường hợp này là nước Mỹ) thì đầu tiên phải có sự đề xuất nguyện vọng cuả chính nước tiếp nhận và trước đó thì giữa đại diện của nước tiếp nhận với đối tượng được đưa đi đã có một thỏa thuận kín đáo nào đó. Trong trường hợp này dù chưa được tiết lộ nhưng rõ ràng bà Jenifer Neidhart de Ortiz đã thuyết phục được Hải về "một giấc mơ Mỹ" như cái cách bà này từng thuyết phục Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ. Và có thể niềm vui đã đến quá sớm và chóng vánh nên Hải đã quên bẵng và không có liên lạc với những người thân của mình (Vợ cũ Dương Thị Tân và con trai Nguyễn Trí Dũng). 

Điều thấy trước là ở nơi đất khách quê người thời gian tới Hải sẽ "đơn côi, lẻ chiếc", không có được sự sát cánh của người thân bên cạnh như chuyến đi của Cù Huy Hà Vũ và Vợ - Nguyễn Thị Dương Hà cách đây gần 1 năm. Mà cũng đúng thôi, Dương Thị Tân và Hải đã ly dị từ lâu. Vì vậy, Tân không còn đóng vai thân nhân nữa. Còn Nguyễn Trí Dũng đã là một công dân có bổn phận chứ không còn là một đứa trẻ. Những năm tháng mà Tân và Dũng ngược xuôi vừa qua chỉ là một con rối bị lợi dụng bởi đám dân chủ cuội với những tin hót kích động "Hải Điếu cày bị tra tấn đến cụt một tay", "Hải Điếu cày tuyệt thực đã 41 ngày trong trại giam". Hải đi rồi, tất họ cũng bỏ rơi Tân thôi.

Ngay lúc này đây không biết cái gì sẽ đến với Hải trên đất Mỹ nhưng có một điều chắc chắn với những gì đã qua thì một chuyến đi Mỹ xem như là cái đích cuối cùng mà những người như Hải muốn hướng đến, chẳng phải vì mục đích "cao cả" gì cả. Trước mắt, chắc sẽ có những ồn ào đón rước của đám "cờ vàng", tung hô "chiến sĩ tự do", vài cuộc họp báo... rồi sau đó sẽ là quên lãng. Với hành trang không tiếng Anh, không nghề nghiệp, hi vọng 2 năm, cũng có thể là 5 năm Hải cũng như Trần Khải Thanh Thủy sẽ hiểu thêm về cái gọi là "giá trị Mỹ" chính trên đất Mỹ - một sự kiểm chứng dù hơi có muộn mằn./.

Các tin khác

CHÂN TƯỚNG TRẦN ĐĨNH QUA "ĐÈN CÙ" (KỲ2)

7 comments

Chân tướng Trần Đĩnh qua Đèn Cù (kỳ 2)


Kỳ 2: Thủ pháp “truyện Tôi” của Trần Đĩnh trong Đèn Cù

“Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là "truyện Tôi" … Truyện Tôi là một loại văn xuôi mới, do Trần Đĩnh tạo ra”.
(Tụng ca 2, của ai không nhớ)

“Cave kể chuyện
Thằng nghiện trình bày”
(Phong dao mới)
                                            --------------

Trong chương 1, Trần Đĩnh kể chuyện Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt bị ong đốt, khá sinh động, cứ như chính mình là người trong cuộc:
“Trong khi trên đường sang Bắc Sơn, nơi đã được Văn Cao cho sắc chàm pha màu gió, buồn tình, bọn Phan Kế An bắn súng cao su phá tổ ong rừng và cả đoàn của Thường vụ Trung ương chạy Tây liền bị ong rừng đuổi đánh. Lê Văn Lương - trưởng ban đảng vụ kiêm công việc như thường trực Ban bí thư bây giờ - chui đầu vào một bao tải thoát nạn phần nào. Hoàng Quốc Việt bị nặng nhất. Ông cứ vừa thúc ngựa tế vừa tế đứa nào mất dạy, vô kỷ luật… và ong theo luồng gió hút cứ nhè ông”.

Đọc thêm vài đoạn nữa, thì độc giả mới ngớ người ra, vì hóa ra, phải mấy năm sau, Trần Đĩnh, bây giờ mới biết mặt Hoàng Quốc Việt:
“Chợt có tiếng vó ngựa trước mặt. Thép Mới đánh nhoáng đã rúc vào bụi mua ven đường đầy sương long lanh. Một người cưỡi ngựa đi tới, mắt đen quăng quắc nhìn tôi đứng đực ngó lại ông vì tôi mải để ý đến bộ ria mép chải chuốt đen ánh, hệt một vật trang sức trên mặt. Ngựa khuất, Thép Mới ở trong bụi mua chui ra: - Xừ Hoàng Quốc Việt… Tổ sư chụp mũ. Hắc lắm. Tao gọi cái điếu cày là ba-dô-ca mà xừ đến đâu cũng đem ra nhiếc: “Giai cấp công nhân đổ máu với nước mắt ra mới chế được thứ vũ khí lợi hại thế mà có người ví là cái điếu cày!”.

Vậy thì cái đoạn ong đốt sinh động ở trên, nếu có, thì chỉ là nghe người khác kể lại, mà đọc đi đọc lại cũng chẳng biết ai kể. Cách viết ấy không thể gọi là “truyện Tôi, một thể loại văn xuôi mới” được mà phải gọi đích danh là “thủ pháp ăn không nói có, thủ pháp vô tuyến truyền mồm”.

Vả lại, ngay cả đến những chi tiết tưởng rằng Trần Đĩnh thực sự chứng kiến thì cũng thiếu tính chính xác, ví dụ câu trước câu sau trong đoạn này thì không biết cụ chủ nhà thả đàn dê vào đêm hay sớm:
“Một sáng Trường Chinh họp kiểm điểm báo với chúng tôi ở dưới ngôi nhà sàn toà soạn. (Đêm đêm, đó là bãi thả dê của cụ chủ nhà người Tày. Sớm nào chúng tôi cũng nằm sấp trên sàn thò đầu nhìn cụ chủ mở cửa thả dê ra rừng. Bốn năm chục con dê toàn cái chen nhau lao ra. Nhưng tới cửa con nào con nấy đều bị con dê đực chặn lại phủ nhay nháy mấy cái, việc mà chúng tôi đùa là “điểm đít” thay cho điểm tâm)”.

Phần cuối sách, Trần Đĩnh có chống chế, rằng cuốn sách này “gồm nhiều chuyện, kể cả những điều tôi đọc ...cũng không nhằm nghiên cứu”“xin bạn đọc thứ lỗi nếu có những thiếu sót bình diện thông tin”.

Đồng ý là cuốn sách, nếu có những thiếu sót về mặt thông tin, tức là do thiếu chính xác từ nguồn trích dẫn, hay do sai sót chủ quan trong khâu xử lý thông tin thì cũng có thể châm chước bỏ qua, nhưng vấn đề người đọc đòi hỏi ở đây là tính lương thiện của người viết.

Nếu thực sự như Trần Đĩnh tự nhận, từng “viết tiểu sử” cho Cụ Hồ, viết hồi ký cho Tổng bí thư Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Văn Lương ... thậm chí đến Lê Đức Thọ cũng vì mến tài mà phải “cầu cạnh”, thì hẳn là người ta sẽ tìm ra trong Đèn Cù tính khoa học, hàm lượng thông tin về lịch sử. Hoặc chí ít cũng phải có những thông tin đáng tin cậy về các sự kiện và các cá nhân liên quan.

Nhưng đọc hết Đèn Cù, chỉ thấy Trần Đĩnh “kể chuyện Tôi”, gắn vào những chuyện sinh hoạt vớ vẩn tầm phào, cũng chẳng đáng gọi là “thâm cung bí sử" của những “ngôi sao”. "Thâm cung bí sử" chỉ là cái cớ để show hàng của Trần Đĩnh dưới mắt đám dân chủ giả cầy và vong nô hải ngoại, đằng sau đó là việc đề cao cái Tôi - Trần Đĩnh bằng cách hạ các “ngôi sao” xuống thấp, nhìn ngắm nghe ngóng theo kiểu “một góc nhìn khác ”, thấp kém và bỉ ổi.

Như dân gian thường nói, “đỉa đeo chân hạc”, ở Đèn Cù, thân phận Trần Đĩnh thuộc hàng thuộc hạ, đã đành, nhưng “con đỉa” Trần Đĩnh lại có xu hướng coi “Hạc” cũng là đồng hạng với mình.

Nhặt ra đây vài ví dụ về những "chuyện thâm cung bí sử" của Trần Đĩnh, (xin không trích nguyên văn để giữ vệ sinh trong một bài viết nghiêm túc):

Nhòm qua ống quần: thấy Cụ Hồ cũng có một đám nâu nâu hay hồng hồng ở vùng ấy ...
(Thú thật tôi không hiểu sao “văn hào” Trần Đĩnh lại đưa chi tiết này vào “truyện Tôi”. Chuyện “Cụ cũng như mọi người” thì ai chả biết, phải chăng duy nhất chỉ có Trần Đĩnh mới được hân hạnh “thực mục sở thị”, nên đó trở thành một niềm “vinh dự” đặc biệt hay sao? Ngô Nhân Dụng khen là “tài viết lách của ông dĩ nhiên là số dzach”, có lẽ là do đoạn này).

Nghe qua chuồng xí: (Tổng bí thư) Trường Chinh hỏi ý kiến (thư ký) Lê Đạt về bài Trần Văn Giàu viết về nhất nguyên, nhị nguyên trong triết học...

Nhòm qua màn ngủ, thấy “văn hóa” của linh mục T nổi cao, nhưng mà qua con mắt Nguyễn Hữu Đang...

Ngóng ra suối, thấy Tố Hữu giặt quần đùi, ca cẩm với Kim Lân về Xuân Diệu...

Đứng với Nguyễn Tuân, thấy Tô Hoài đấm hụt phi công Mỹ... để "bày tỏ lập trường", xong lại phân trần với Trần Đĩnh.

Trong những chi tiết, sự kiện tù mù kể trên và còn ở nhiều chỗ khác, để ý kỹ Trần Đĩnh thường viết ra theo cái cách để người đọc ngầm hiểu dường như luôn có người thứ ba, như là một nhân chứng.

Một đoạn trong chương 1, được đám “dư luận viên chống Cộng” hâm mộ đến phát cuồng, cho rằng “như một quả bom sự thật", có tính “giải thiêng”. Đó là đoạn bịa đặt bỉ ổi và bẩn thỉu dưới đây, mà tôi đành phải trích nguyên văn, vì muốn trình bày chiêu thức Trần Đĩnh đánh bả người đọc như thế nào.
“Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: “À, cái Z tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy Z. đến nữa. “Chắc máy Cụ yếu!”, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”.

“Một chiều về sớm hơn, An nói..... À,....”, với vài dòng chữ mà Trần Đĩnh lửng lơ nói dối không chút ngượng như trên, hẳn là bạn đọc sẽ tưởng tượng ra Trần Đĩnh là người đích thân chứng kiến “Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ”, rồi có cả một buổi chiều An bỗng bị “xua về sớm”, An gặp và Trần Đĩnh thắc mắc nên Phan Kế An mới “À” và giải thích với Trần Đĩnh, rằng vì thế ... vì thế...

Sự thực thì sao???
Ngay câu mở đầu Đèn Cù, Trần Đĩnh đã cho biết: “Tôi đến ATêKa, an toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật đầu 1949”.
Chỗ khác, Trần Đĩnh cũng nhấn mạnh, năm Trần Đĩnh nhập ATK là 19 tuổi (sinh năm 1930), sửa thẻ nhà báo thành 23 tuổi.

Thế còn họa sĩ Phan Kế An vẽ Cụ Hồ vào thời điểm nào?
Phan Kế An, được Trường Chinh phân công vẽ Cụ Hồ ở ATK vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 năm 1948, các bức vẽ được họa sĩ ghi rõ thời điểm hoàn thành là tháng 11/1948, (xem ảnh). Khi đó, Trần Đĩnh còn ở đẩu ở đâu, mãi mấy tháng sau mới đặt chân vào ATK. Thế thì thử hỏi Trần Đĩnh có phép thần thông nào vượt không gian và ngược thời gian, để thấy An “ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ”, rồi bỗng một buổi chiều gặp An “bị xua về sớm”, rồi lại có cả đến "vài tháng sau, An lại về muộn" ???

Trong khi chính ông Phan Kế An thuật lại trên các báo, thời gian làm việc (ký họa) bên Cụ Hồ lúc ấy là liên tục trong hơn hai tuần hoặc ba tuần là chấm dứt, thế thì bới đâu ra cái gọi là “vài tháng sau, An lại (đi vẽ Cụ Hồ và) về muộn".

Có thể nghe họa sỹ Phan Kế An kể lại về công việc vẽ Cụ Hồ bằng cách gõ mấy chữ "Phan Kế An vẽ Bác" vào google và chọn lựa, ví dụ tôi đã chọn ngẫu nhiên ở đây, hoặc ở đây, và được hai bức tranh sau: 




























Tranh Phan Kế An vẽ Cụ Hồ tại Việt Bắc, trên các bức tranh còn ghi rõ thời điểm hoàn thành là tháng 11/1948, khi mà Trần Đĩnh chưa hề đặt chân đến ATK.

Ngay cả khi được BBC mớm hỏi về tính chân thực và căn cứ của các “thâm cung bí sử” kiểu này, Trần Đĩnh buộc phải trả lời ú ớ:
“Tôi sống lúc ấy thì tôi biết chứ, ví dụ như chuyện Cụ có những cái này, cái nọ thì bạn bè tôi nói, thì biết thôi. Chứ còn bây giờ nói lại thì thực là khó”.

Nói Trần Đĩnh viết để “hạ bệ thần tượng” cũng đúng, nhưng ở một góc độ khác, lại thấy Trần Đĩnh thèm khát ngang tầm với các “ngôi sao”, nhưng vì không thể so về mặt sáng và tầm cao nên đành "soi" các mặt tối và thấp để so. Rằng, quý vị thấy chưa, các vị ấy cũng là người thường như Trần Đĩnh - Tôi cả thôi.

Vâng, đúng vậy, ai cũng biết, “các ngôi sao” xung quanh Trần Đĩnh cũng là những người thường cả. Nhưng chính vì họ cũng là người thường nên ta mới lại càng thấy sự nghiệp mà họ tạo dựng ra càng trở nên lớn lao, vĩ đại. Tiếc rằng "văn hào" Trần Đĩnh và các nhà "giải thiêng" khác đã không hiểu hay không muốn hiểu điều đó.

Chẳng riêng với những "ngôi sao", mà cả với kẻ “đồng chí hướng” bây giờ như Bùi Tín, "văn hào" Trần Đĩnh cũng không bỏ lỡ cơ hội bịa tạc và xỏ xiên và cả khinh bỉ:

Chương 38 Đèn Cù, có chi tiết “đại tá” Bùi Tín vào dinh Độc Lập, không chỉ “tiếp nhận đầu hàng” (như ngài nói khoác sau này) mà còn hèn hạ “tranh thủ” nhòm tủ lạnh của kẻ thù:
“Xem đến đoạn Bùi Tín vào Dinh Độc Lập mở tủ lạnh xem “chúng nó” ăn những gì, tôi không đọc nữa. Kiểm kê sự ăn uống của tư sản, địa chủ vốn nằm quen thuộc trong cẩm nang phát động quần chúng căm thù bọn bóc lột. Tức là bấm vào cái huyệt ghen ăn tức ở”.

Thực ra, Trần Đĩnh đã bịa ra cái chuyện Bùi Tín “mở tủ lạnh”. Muốn xem và viết "chúng nó ăn gì” thì Bùi Tín chỉ cần chép lại từ bản thực đơn sót lại của bữa ăn cuối trong phòng ăn tổng thống, (bản thực đơn này nay vẫn còn đang được trưng bày tại dinh Thống nhất như một vật chứng lịch sử hiếm hoi).

Hoặc, Trần Đĩnh xỏ xiên thói “nâng bi” (mà lại là "nâng bi" một cách "khoái lạc") của Bùi Tín như ở chương 37: “Lễ vừa tan, tôi lẻn vội ra hồ Gươm, không cùng cả cơ quan chụp ảnh với Lê Duẩn. (Hôm sau, xem bức ảnh Lê Duẩn chụp với báo đảng to gần hết cả trang nhất. Nhà báo tên tuổi Th. T. ngả hẳn người vào vai Lê Duẩn, cười khoái lạc, tay ôm một quyển to tổ bố - chắc là một cụ kinh điển Mác-xít nào anh vừa vào thư viện mượn ra làm đạo cụ diễn show - tôi cả quyết thế vì chả lẽ đến để toàn tâm toàn ý nghe Tổng bí thư mà lại vẫn kè kè đèo theo một khối sách nặng đến nửa ký?)”.

Ấy, đọc Đèn Cù, nghe Trần Đĩnh chửi trên đầu trên cổ thế mà Bùi Tín, tức "cựu nhà báo tên tuổi Thành Tín" vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt để rồi bốc thơm “bồi bút” Trần Đĩnh trên VOA và BBC rằng “Đèn cù là trái bom vào sự thật che đậy”. 

Tôi nghĩ, nếu ông Bùi Tín nếu còn biết trọng danh dự, cho dù chỉ ở mức độ bằng cái móng tay, thì cũng nên có lời cải chính, chỉ rõ “Đại tá” Bùi Tín hôm nay, “nhân vật lịch sử”, từng là “sĩ quan cao cấp nhất” có mặt tại Dinh Độc lập là để “tiếp nhận đầu hàng” của chính thể Việt Nam Cộng hòa, chứ không phải để "mở tủ lạnh ở Dinh Độc lập"... và "nhà báo tiếng tăm Th.T” ngày xưa cũng không ôm "một cụ kinh điển Mác-xít to tổ bố" để làm "đạo cụ diễn show" trước mặt Tổng bí thư Lê Duẩn. Rất tiếc là Bùi Tín đã thừa nhận những sự việc trên là có thật thông qua lời bình “Đèn cù là trái bom vào sự thật che đậy”. Thảm hại thay cho thân phận đổi màu của chú kỳ nhông cắc ké đến hồi mạt vận.

Về mặt gắn kết giữa sự kiện và thời điểm thì "văn hào" Trần Đĩnh quả là “bậc thầy” của sự ba vạ, tức là bạ đâu quăng bom đó, liệt kê không hết:
Ví dụ, ở nhiều chỗ trong Đèn Cù, các câu hò vè mà “nhà văn” Trần Đĩnh thu nhập được do “quần chúng lao động” và cả trẻ con dạy dỗ, hầu hết bị Trần Đĩnh cho đi tàu suốt, ngược về quá khứ. 

Về ngày chết của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: "Gần năm rưỡi sau, tôi được giấy phép vào ...khoảng một tuần sau, bố tôi đi chơi về khẽ bảo tôi: Vũ Hoàng Chương vừa mới chết…".(chương 38)

Thật ra Vũ Hoàng Chương chết ngày 6/9/1976, tức trước khi tác giả được phép vào miền Nam (11/1976) ít nhất hai tháng (một năm rưỡi sau ngày 30/4/1975).

Tệ nhất là đoạn này, nếu đã có ai đó khen “văn” Trần Đĩnh rất có “thần”, thì tôi cũng đồng ý, nhưng “thần” ở đây phải hiểu là “tâm thần”, vì chỉ trong một câu, "bút thần" của Trần Đĩnh đảo lộn cả trình tự “nhân quả”: 
Trích, chương 25 : “...Nếu như đầu những năm 1990, Lê Giản không nói cho tôi biết Lê Đức Thọ đã ra lệnh thủ tiêu mười mấy cán bộ đảng viên Trung Quốc, chắc có nhiều khả năng tôi sẽ viết hồi ký cho Lê Đức Thọ”.
Theo Đèn Cù, ta biết thời điểm mà có nhiều khả năng tôi sẽ viết hồi ký cho Lê Đức Thọ lại diễn ra cách năm 1990 khoảng 20 năm về trước.

Hay chi tiết trong chương 7, nói về Công hàm Phạm Văn Đồng, thì cũng lại “thần kinh” nốt, vì đến trẻ con bây giờ cũng biết và gọi đó là Công hàm 1958, trong Đèn Cù được Trần Đĩnh kể lại rất chi li qua miệng Lê Thúc Hoạch, xong lại gắn vào thời điểm Thép Mới tháp tùng Cụ Hồ đi thăm 10 nước XHCN (1956) và “Niên học 1955-56 trôi đi bức bối (với tôi vì bị cấm yêu)".

Không phải là không có những chỗ, những đoạn Trần Đĩnh viết hay, gây xúc động với người đọc. Nhưng đó chỉ là trên bề mặt chữ nghĩa, còn phía dưới những chỗ, những đoạn ấy không ai có thể biết một cách chắc chắn nó chân thực đến mức nào hay là bịa đặt hoàn toàn. Vì toàn bộ phần còn lại nếu người đọc có đủ kiến văn để lắp ráp xâu chuỗi các sự kiện, thì sẽ thấy rõ Trần Đĩnh như kẻ "ăn vụng chuyên nghiệp" nhưng khoản "chùi mép" lại cũng vụng nốt.

Như vậy, ta lại thấy thủ pháp “văn Tôi”, “truyện Tôi” trong Đèn Cù, là thủ pháp đánh bả, trộn nháo nhào các sự kiện (thật và giả), thời gian, người kể và nhân chứng. Điều này tuy có thừa kế nhưng cũng có khác biệt ít nhiều so với các "tác phẩm" thể loại "giải thiêng" khác của các "tiền bối" như Bùi Tín hay Osin.

Trong dãy "tác phẩm giải thiêng", Đèn Cù đứng ở vị trí cuối

Các tin khác

CHÂN TƯỚNG TRẦN ĐĨNH QUA "ĐÈN CÙ" (KỲ 1)

1 comments

Mõ Làng: Cách đây không lâu tôi có viết về Trần Đĩnh qua bài "Bóc mẽ Đèn Cù của Trần Đĩnh". Hôm nay, bắt gặp tiếng nói đồng tâm của Thanh Tùng Nguyên qua "Đôi Mắt", xin đưa về đây để bạn đọc cùng xem.

Chân tướng Trần Đĩnh qua "Đèn cù" (kỳ 1)



“Tài viết lách của ông dĩ nhiên là số dzách, nhưng tên ông thì ngày nay bỗng dưng người ta mới khám phá ra trong tác phẩm Đèn Cù. 

Trần Đĩnh vẫn giữ nguyên cái đức của người viết báo, là nói sự thật, kể những chuyện thật. Đọc tới đâu người ta cũng cảm thấy: Đây là những chuyện thật, sự thật được bày ra, sự thật ròng, như thịt xương còn sống, tàu lá còn xanh, như gỗ mộc không sơn phết. Những suy tư, thao thức của tác giả được trình bày riêng, bên ngoài lời kể các sự kiện. Người viết không thêm thắt tình cảm, suy tư, phê phán, như thêm mắm muối, tiêu, hành, vào cho món ăn thêm mùi vị. ”.
(Tụng ca 1, Ngô Nhân Dụng)

"Tố tiếc gì chẳng ra cái đếch
Chuyện đầu cua tai ếch khó nghe
Thôi cho giải tán, đi về!".

(Nhà thơ Tú Mỡ bình luận)

                                     Trần Đĩnh

-------------

Lần đầu, tôi đã đọc một mạch Đèn Cù qua bản PDF lưu hành miễn phí qua internet và đã thấy, thật sự Không cần thiết phải nhiều lời về "tác phẩm" này.

Tuy nhiên, sau khi đọc lần thứ hai qua 8 kỳ đăng tải trên trang Google.Tienlang, nhận thấy "tác phẩm Đèn Cù" của Trần Đĩnh, với bút pháp gian trá, hạ lưu, đê tiện, có thể gây tác hại, như một liều thuốc bả, đối với những bạn đọc vì lý do nào đó, chỉ đọc Đèn cù về mặt văn bản văn học mà không quan tâm, hoặc không nắm vững bối cảnh lịch sử của những câu chuyện rác rưởi mà Ngô Nhân Dụng tung hô là "thâm cung bí sử" trong Đèn cù.

Vì thế, đành mất thời gian vạch trần chân tướng "nhà báo", "nhà văn", và con người "phản chiến" Trần Đĩnh, thông qua chính một vài câu chuyện, sự kiện được Trần Đĩnh đề cập trong Đèn cù. Hy vọng, bài viết này sẽ như một liều thuốc giải hữu ích đối với những bạn đọc vừa đề cập ở trên.

Do bản Đèn cù do G.tienlang đăng tải không đánh số trang, nên các trích dẫn sẽ được ghi chú theo chương, hơi bất tiện cho bạn đọc khi đối chiếu, mong được sự thông cảm. (Khi nào có điều kiện sửa lại, sẽ dẫn theo trang).Kỳ 1: Phương pháp “làm báo” của Trần Đĩnh qua Đèn Cù

Tác giả tự nhận mình là nhà báo tài năng, viết có "thần", có "khí", đã từng viết hàng trăm bài báo, nhưng, trong Đèn Cù, thì Trần Đĩnh chỉ kể cụ thể về quá trình và "thủ pháp sáng tạo" đối với ba bài báo, một về bầu cử, một về tình quân dân và một về Cải cách ruộng đất.

Qua các chi tiết về ba bài báo này, ta có thể hiểu phương pháp “tác nghiệp” của “nhà báo” Trần Đĩnh như thế nào.

Ngay trong chương 1, tác giả kể lại về 2 bài báo mà mình đã viết, như sau:
Bài báo thứ nhất là bài thuật lại sự kiện cuộc bầu cử hội đồng nhân dân xã.
“Không biết bầu cử cụ thể nào, tôi bịa. Nhưng bài báo đặc biệt sinh động, chân thực. Có cả cô gái Tày reo a lúi! trên đầu đẳng nhà sàn. Với tôi lúc ấy a lúi (ớ kìa) là thán ngữ đáng yêu nhất. Ai nói a lúi đều là con gái mặt hoa da ngọc”.

Bài báo thứ hai mà Trần Đĩnh viết, là về tình quân dân.
“Lại tôi. Tôi dựng ra một vùng chiêm trũng giáp vùng địch bị lụt, mùa màng ngập trắng, lúa sắp mọc mầm. Thì bộ đội về. Kỳ tích xuất hiện. Trắng đồng, sạch đồn”.

Đến bài báo thứ ba, về đề tài Cải cách ruộng đất, được kể lại ở chương 5. Không dấu vẻ tự hào, hai lần Trần Đĩnh nhấn mạnh rằng bài báo này là phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất và khai hỏa cải cách ruộng đất, thì:
“Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Sở dĩ báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của tổng bí thư".

Những chữ in đậm, gạch dưới chính là thủ pháp viết báo "số dzach" của "nhà báo" Trần Đĩnh, như Trần Đĩnh tự thú.
Đi sâu hơn một chút, bạn đọc có thể thấy chỉ trong một đoạn văn ngắn nêu trên đã có một loạt những sự vô lý mà Trần Đĩnh “phịa” trắng trợn:

- Vì Đồng Bẩm gần Hà Nội nên sợ lộ bí mật, sợ Pháp nhảy dù. Nên Trần Đĩnh (báo chí) không dự các buổi đấu tố. Thế mà Trường Chinh vẫn bảo Đĩnh viết bài?

- Trong khi đó thì “cấp dưỡng Văn” lại đi dự và nhờ đó Trần Đĩnh mới “pha phách thêm nếm” để có bài báo “khai hỏa”? “Cấp dưỡng Văn” sao không lo việc “dưa muối tương cà” lại đi dự đấu tố?

- Đã sợ Pháp nhảy dù bắt cóc đến mức "báo chí” không dám đi dự thì sự kiện “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”, nếu có thật như Trần Đĩnh rêu rao, được giới "dư luận viên" chống Cộng coi là một phát hiện mới và tán thưởng ầm ĩ, thì sinh mệnh của linh hồn kháng chiến là các ông Chủ tịch nước và Tổng bí thư hẳn phải không quan trọng bằng an toàn của anh cu “nhà báo” Trần Đĩnh? (Viết đến đây, tôi bỗng liên hệ với một chi tiết trong "tác phẩm Trăn trối" và phát hiện ra, đối với lãnh tụ kháng chiến, thì sự nguy hiểm của cụ Thảo triết gia (cụ phải đứng cách xa lãnh tụ 3m) hóa ra còn cao hơn cả đại đội lính dù Pháp).

- Và, cuối cùng, nếu “báo chí không dự” thì ông nhà báo Tiêu Lang nào đó ở đâu ra kể lại tỉ mỷ vụ bắn, rồi mua quan tài, rồi mai táng địa chủ Năm một cách ghê rợn...cho tác giả, như Trần Đĩnh viết sau đó mấy trang?

Đến đây, tưởng cũng nên nhắc một chút, việc Trần Đĩnh ba xạo về chuyện bí danh, bút danh làm báo. Tất nhiên, khái niệm bí danh và bút danh là khác nhau, nhưng đối với một "nhà báo chuyên nghiệp" như Trần Đĩnh, thì đâu là ranh giới giữa bút danh và bí danh (?).

Chương 1, Trần Đĩnh khoe “chả hiểu sao tôi dứt khoát không bí bầu gì cho mình cái danh nào cả”.

Thậm chí còn viết thư về khoe với mẹ, về việc không bí danh, đồng thời được ở bên cạnh các lãnh tụ cho nên bà cụ mới viết thư động viên “Mẹ rất yêu cái tên Trần Đĩnh cộc. Con được vinh dự ở bên các vì sao sáng, con phải chịu khó, ngoan, vâng lời...”

Chả biết “dứt khoát” được bao lâu, thế nhưng cũng chính “Trần Đĩnh cộc” cho biết, vì mê cô X, nên từng lấy bút danh Hoàng X để viết báo. Rồi ngay ở bài báo “Khai hỏa Cải cách ruộng đất” thì lại “bài báo này tôi ký một tên ú ớ không còn nhớ và sau đó cũng không mó đến nó bao giờ. Chẳng hiểu vì sao”.

Đấy là chưa nói đến việc viết thư về vùng địch khoe mình ở chung với các vì sao sáng (Chủ tịch nước, Tổng bí thư) cũng là một chuyện sẽ bị nghiêm cấm ở nơi gọi là An Toàn khu (ATK).

Như vậy, với cách làm báo "sáng tạo" như trên, có thể tạm kết luận:

Bịa, dựng, pha phách thêm nếm và cộng thêm phét lác, đó là phương pháp viết báo của Trần Đĩnh, không chỉ có từ thời "văn hào" còn ở ATK mà, rõ ràng, giờ đây, phương pháp này đã lại được tận dụng triệt để ngay trong "tác phẩm" Đèn Cù.

Các tin khác

TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BỘ TRƯỞNG PHÙNG QUANG THANH VỀ CHUYẾN ĐI TRUNG QUỐC

Monday, October 20, 2014 6 comments

"Quân đội phải kiểm soát được tình hình trên biển"


Hôm nay, 20.10, bên lề phiên họp khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 13, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã trả lời phỏng vấn báo chí về buổi làm việc của ông với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn ở Bắc Kinh.


* Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng cho biết kết quả chuyến thăm và làm việc của đoàn cán bộ do Bộ trưởng dẫn đầu tại Trung Quốc vừa qua?

Bạn đón tiếp ta rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị. Mục đích của chuyến đi là 2 bên bàn bạc với nhau để tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của 2 nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân 2 nước. Chúng tôi thống nhất với nhau là tranh chấp thì phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình còn quân đội thì phải kiểm soát được tình hình trên biển, hết sức tránh việc sử dụng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực và tránh không để xảy ra xung đột, va chạm vũ trang trên biển. Hai bên thống nhất với nhau ký 1 bản ghi nhớ về kỹ thuật để thiết lập đường dây liên lạc thường xuyên trực tiếp giữa 2 Bộ trưởng Quốc phòng để khi có tình huống, va chạm, vụ việc xảy ra trên biển thì 2 bên có thể gọi nhau để trao đổi được với nhau, kiểm soát cho được những diễn biến trên biển, tránh xung đột. Hai bên thống nhất với nhau là phải kiểm soát tốt biên giới để xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển lâu dài, tạo điều kiện tối đa cho nhân dân 2 nước đi lại, giao thương, làm ăn hợp pháp.

Tôi cũng đề nghị phía Trung Quốc sớm dỡ bỏ cảnh báo về du lịch để nhân dân 2 nước đi lại giao lưu. Hoạt động du lịch phát triển thì hoạt động hàng không cũng phát triển, như thế thì tăng cường hữu nghị và mới tăng cường sự tin cậy giữa 2 bên.

* Thưa Bộ trưởng, 2 bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?

Chúng tôi có trao đổi là giờ phải giữ nguyên hiện trạng, trên biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC - tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng tranh chấp, không cắm mới vào những nơi mà các bên chưa cắm. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.

* Họ có đưa ra một cam kết, lời hứa nào về việc giữ nguyên hiện trạng như này?

Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung 2 bên đều thống nhất phải thực hiện DOC - nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng. Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng, đó là tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn có hạn nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung Quốc.

* Nhiều chuyên gia nêu ý kiến lo ngại hướng xây dựng của Trung Quốc là để hình thành một căn cứ quân sự tấn công. Điều đó đe doạ mối an ninh hàng hải trong khu vực. Cảnh báo đó có đáng suy nghĩ, lo ngại không, thưa Bộ trưởng?

Đó là các nhà nghiên cứu dự báo thôi chứ còn đương nhiên bên nào mà tiến hành xây dựng thì đó cũng là một căn cứ quân sự cả. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực.

* Ghi nhận nào quan trọng nhất giữa các Bộ trưởng trong lần gặp này?

Quan trọng nhất là thoả thuận 2 bên phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hoà bình và kiểm soát cho được hoạt động của lực lượng vũ trang 2 nước trên biển, không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển.

Hà Nguyễn
Nguồn: Thanh Niên

Các tin khác
 
Mõ Làng © 2013 | Designed by Tuấn Minh