VÌ SAO NƯỚC THỊNH, NƯỚC SUY - MỘT LUẬN GIẢI GẦN ĐÂY

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014 0 nhận xét

VÌ SAO NƯỚC THINH, NƯỚC SUY 

Huỳnh Thế Du

Các học thuyết phát triển đang rơi vào khủng hoảng và chưa một chủ thuyết nào được đa số công nhận như các học thuyết của Marx ở các nước XHCN hay thị trường tự do trước năm 2008. Rất nhiều thảo luận đang nổi lên, nhất là giờ đây kinh tế học được phân thành rất nhiều nhánh nhỏ và liên thông với các khoa học khác. Trang web http://www.proiect-syndicate.org, nơi thảo luận của rất nhiều những nhà kinh tế, những tinh hoa hàng đầu thế giới hiện nay phản ảnh rất rõ sự sôi động và đa dạng trong các quan điểm.

Đối với các nước đang phát triển, tác phẩm “Tại sao Nước thịnh, Nước suy: Nguồn gốc của Quyền lực, Sự thịnh vượng, và Nghèo khó” của Daron Acemoglu và James Robinson (2012) là rất đáng tham khảo. Hai tác giả đã phân tích sự phát triển của các nền kinh tế thế giới qua nhiều thế kỷ và chỉ ra rằng những nước phát triển là những nước có thể chế kinh tế và thể chế chính trị dung nạp trong khi những nước có thể chế kinh tế và thể chế chính trị khai thác hay tước đoạt thì khó phát triển.

Thể chế kinh tế dung nạp (inclusive economic institutions) là thể chế, ví dụ như các nước bắc Âu, hay Hàn Quốc, cho phép và khuyến khích sự tham gia đông đảo của người dân trong các hoạt động kinh tế mà chúng làm cho tài năng và kỹ năng của mỗi người được sử dụng tốt nhất và cho phép mọi người được lựa chọn điều mình mong muốn. Thể chế kinh tế này được đặc trưng bởi sự bảo đảm quyền tài sản cá nhân, một hệ thống pháp luật không thiên vị, và sự cung cấp các dịch vụ công bình đẳng để mọi người có thể trao đổi và hợp đồng với nhau, nó cũng cho phép sự tham gia của các hoạt động kinh doanh mới và cho phép người dân lựa chọn nghề nghiệp của mình.

Thể chế kinh tế tước đoạt (extractive economic institutions) là thể chế không có được các đặc trưng nêu trên mà ở đó chúng được thiết kế để tước đoạt hay khai thác thu nhập hay của cải của nhóm này để phục vụ cho một nhóm khác. Nói một cách đơn giản là thu nhập hay của cải của số đông người dân được khai thác để phục vụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và một số ít đối tượng liên quan. Một số nước Trung Đông trước cuộc cách mạng Hoa Nhài cũng như nhiều nước khác có những đặc trưng loại hình thể chế kinh tế này.

Thể chế chính trị dung nạp (inclusive political institutions) là thể chế hội đủ hai điều kiện gồm: một mức độ tập trung cần thiết và đa dạng trong các quan điểm (pluralism). Khi một trong hai điều kiện không được thỏa mãn thì thể chế như vậy gọi là thể chế chính trị khai thác hay tước đoạt (extractive political institutions).

Có sự liên hệ chặt chẽ giữa các thể chế kinh tế và thể chế chính trị.

Thể chế chính trị tước đoạt tập trung quyền lực trong tay một số ít tầng lớp tinh hoa và có ít các giới hạn trong thực thi quyền lực. Các thể chế kinh tế tước đoạt khi đó được thiết kế để tước đoạt các nguồn lực từ phần còn lại của xã hội để phục vụ cho những đối tượng đang nắm quyền. Do vậy thể chế kinh tế tước đoạt một cách tự nhiên gắn liền với thể chế chính trị tước đoạt. Nói chính xác hơn là thể chế kinh tế tước đoạt phải dựa vào thể chế chính trị tước đoạt để tồn tại. Những nhóm đặc lợi kinh tế sử dụng nguồn lực một cách vô tội vạ mà không quan tâm đến hiệu quả chung cho toàn xã hội. Các chính sách được đưa ra mục đích duy nhất là để bảo vệ lợi ích của các nhóm này, và chúng triệt tiêu sự sáng tạo. Trong thể chế dạng này, giới cầm quyền rất sợ cái mới, rất sợ sự phá hủy sáng tạo, điều mang lại lợi ích cho toàn xã hội nhưng đe dọa quyền lực của họ và những người đang được hưởng lợi từ cấu trúc thể chế đó. Điều này trên thực tế đã xảy ra ở Anh, thời kỳ trước cuộc cách mạng công nghiệp khi mà hoàng gia và những người liên quan đã tìm mọi cách để bảo vệ lợi ích của mình và cấm đoán các ý tưởng sáng tạo và điều này cũng khá phổ biến ở không ít nước trong thời đại ngày nay.

Thể chế kinh tế dung nạp, ngược lại, được hình thành trên các nền tảng mà chúng được tạo ra bởi thể chế chính trị dung nạp và chúng làm cho quyền lực được phân bố trên một diện rộng các tầng lớp xã hội và giới hạn việc thực thi quyền lực độc đoán. Những thể chế chính trị như vậy cũng cản trở việc thâu tóm quyền lực hay phá hủy các nền móng của các thể chế kinh tế dung nạp. Những người đang kiểm soát quyền lực chính trị không thể sử dụng chúng một cách dễ dàng để thiết lập các thể chế kinh tế tước đoạt có lợi cho chính họ. Thể chế kinh tế dung nạp tạo ra việc phân bổ các nguồn lực công bằng hơn và giúp cho cấu trúc thể chế chính trị dung nạp bền vững hơn.

S ự kết hợp giữa thể chế kinh tế dung nạp và thể chế chính trị tước đoạt hay ngược lại là không bền vững. Các thể chế kinh tế tước đoạt sẽ không thể tồn tại dài lâu trong một thể chế chính trị dung nạp. Tương tự, thể chế kinh tế dung nạp sẽ không hỗ trợ và không được hỗ trợ bởi thể chế chính trị tước đoạt. Trong tình huống này, hoặc là các thể chế kinh tế dung nạp dần được chuyển hóa và thay thế bởi các thể chế kinh tế tước đoạt, hoặc ngược lại, sự năng động của các hoạt động kinh tế sẽ làm mất ổn định các thể chế chính trị tước đoạt và dần chuyển biến thành các thể chế chính trị dung nạp với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp trong xã hội.

Những lý giải về thể chế nêu trên là rất thú vị. Tuy nhiên, đây mới chỉ là sử tổng kết những điều đã xảy ra cùng những vấn đề mà nhiều người khác đã chỉ ra, trong khi những dự đoán của các tác giả vẫn chưa có thời gian để kiểm chứng. Còn quá sớm để nói về ảnh hưởng của chủ thuyết này, nhưng những phân tích này là rất đáng tham khảo, nhất là cho các nước đang phát triển trong việc cải cách thể chế hiện hữu để trở nên hiệu quả hơn.

Tags:

NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI Ở CÁC NƯỚC BẮC ÂU

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
0 nhận xét

NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI Ở CÁC NƯỚC BẮC ÂU

Huỳnh Thế Du

Chỉ có khoảng 25 triệu người nằm ở các rẻo đất hẹp, nhưng mô hình nhà nước phúc lợi (welfare state) ở các nước bắc Âu, nhất là bốn nước Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan và Thụy Điển gây ra rất nhiều chú ý với rất nhiều nghiên cứu về mô hình này. Năm 2011, Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos Thụy Sỹ đã tìm hiểu Con đường của các nước bắc Âu (WEF 2011) và tháng 02/2013 vừa qua, Tờ Nhà kinh tế, có trụ sở ở Anh đã có Báo cáo đặc biệt: Mô hình các nước bắc Âu (Economist 2013a). Trong gần như tất cả các xếp hạng về mức độ phát triển của các quốc gia trên thế giới, những nước này nhìn chung đều có vị thứ cao nhất. Trong nghiên cứu Mô hình bắc Âu của Viện nghiên cứu Kinh tế Phần Lan, nhóm tác giả Torben M. Andersen, Bengt Holmstrỏm, Seppo Honkapohja, Sixten Korkman, Hans Tson Sỏderstrỏm và Juhana Vartiainen (2007) đã chỉ ra rằng:

So sánh một cách tổng thể với các nước khác, các nước bắc Âu tốt hơn khi kết hợp hiệu quả kinh tế và tăng trưởng với thị trường lao động nhân bản, phân phối thu nhập công bằng và cố kết xã hội. Mô hình này tạo ra nguồn cảm hứng cho nhiều người tìm kiếm một hệ thống kinh tế - xã hội tốt hơn... Ở chiều ngược lại, điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là tại sao các nước bắc Âu có thể trở nên thịnh vượng và tăng trưởng tốt với các khuyến khích kinh tế được xem là yếu đi cùng với thuế suất rất cao, một hệ thống an sinh xã hội hào phóng và chế độ phân phối bình quân.

Hình dung một cách đơn giản, trong thị trường tự do không có chính phủ, một người làm ra bao nhiêu được sẽ bỏ túi bấy nhiêu và các chi tiêu cá nhân của họ cũng không phải đóng thuế hay cống nộp cho ai cả. Lúc này động cơ của các cá nhân là cao nhất. Ở mô hình xã hội cộng sản lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu của Marx, người lao động làm ra bao nhiêu thì sẽ góp toàn bộ làm tài sản chung, sau đó nhu cầu của mình như thế nào hưởng thế ấy. Cách thức phân phối này đã được áp dụng một cách cưỡng bức ở các nước XHCN thuần túy và đã thất bại. Sau đó nhà nước giao 5% đất cho nông dân thì họ chỉ tập trung vào đó mà không quan tâm đến phần còn lại và cuối cùng các nước này phải quay lại các quy luật của kinh tế thị trường, trả phần lớn tài sản ruộng đất cho người dân như phân tích ở trên.

Đối với mô hình ở các nước bắc Âu hiện nay, người lao động làm ra 100 đồng thì phải đóng thuế (bao gồm thuế thu nhập và thuế tiêu dùng) khoảng một nửa - đây là một mức rất cao. Điều thú vị là ở chỗ, các khoản thuế đang được sử dụng rất hiệu quả tạo ra một hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội hào phóng. Xét theo logic và tâm lý thông thường thì sưu cao thuế nặng sẽ làm giảm động cơ làm việc của người lao động và phúc lợi xã hội cao mà không phải làm gì khiến người ta lười hơn. Tuy nhiên, người dân ở các nước này vẫn chăm chỉ làm việc để đưa quốc gia của họ đi đến phồn vinh. Ví dụ, sau những chập choạng bởi khủng hoảng ở thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, trong giai đoạn 1993-2010, Thụy Điển đã giảm nợ công từ 70% xuống còn 37% GDP, ngân sách từ thâm hụt bằng 11% GDP trở thành dương 0,3%; tăng trưởng kinh tế và tăng năng suất lần lượt là 2,7% và 2,1% so với 1,9% và 1% của 15 nước mạnh nhất khối EU. Chi tiêu của khu vực công giảm từ 67% GDP xuống còn 47%, trong khi đời sống cả vật chất và tinh thần của phần lớn người dân đều khấm khá lên (Economist 2013a).

Dựa vào những kết quả kinh ngạc nêu trên mà nhiều người cho rằng con đường ở giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đang tồn tại ở các nước này (Economist 2013a, và Henrik Berggren và Lars Trăgảrdh 2011). Chính sách mỗi nước là rất khác nhau, nhưng tựu trung, những yếu tố then chốt đi đến thành công của các nước này gồm:

Thứ nhất, các nước bắc Âu đã theo chủ nghĩa tự do và trọng người tài từ rất sớm. Ví dụ, ngay từ năm 1840, Thụy Điển đã bãi bỏ các ưu tiên cho tầng lớp quý tộc vào các chức danh của nhà nước và tạo ra một dịch vụ dân sự trọng dụng người tài và không có tham nhũng. Trường phái ủng hộ thị trường tự do luôn có những vị trí chủ chốt trong chính phủ. Sự phân bổ nguồn lực theo các quy luật của thị trường tự do được tận dụng tối đa, các doanh nghiệp tư nhân có quyền cạnh tranh bình đẳng với các nhà cung cấp của chính phủ.

Thứ hai, tính thực tế và ý chí sắt đá là nền tảng tạo ra một chính phủ minh bạch và trung thực. Khi phát hiện ra trục trặc thì cả hệ thống chính trị đã được huy động để tìm giải pháp và điều chỉnh sao cho hợp lý hơn. Các đồng thuận mới có thể thay thế những nguyên tắc cũ kỹ, lỗi thời một cách dễ dàng. Tính thực tế cũng giải thích tại sao các nước này liên tục cập nhật và điều chỉnh mô hình phát triển của họ. Hơn thế, thay vì kinh doanh hay làm ở khu vực tư nhân như nhiều nơi khác, rất nhiều người tài ở các nước này đã vào làm việc tại khu vực nhà nước và đây được xem là vinh hạnh của họ.

Thứ ba, vốn xã hội làm giảm chi phí giao dịch. Sự kết hợp của địa lý và lịch sử đã tạo ra hai nguồn vốn cực kỳ quan trọng trong xã hội đó là sự tin tưởng vào người lạ và niềm tin vào các quyền tự do cá nhân. Đây là vốn xã hội rất quý theo như phân tích của Pierre Bourdieu, Robert Putnam cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác. Điều này giúp giảm thiểu đáng kể các chi phí giao dịch - một rào cản rất lớn làm giảm hiệu quả kinh tế như phân tích của Ronald Coase cùng nhiều người khác.

Thứ tư, tự chủ cá nhân là một trong những yếu tố then chốt. Sự kết hợp của một quy mô nhà nước lớn với chủ nghĩa cá nhân có vẻ gì đó phi lý đối với nhiều người, nhưng Lars Tragardh chỉ ra rằng đây không phải là vấn đề lớn vì người dân cho rằng vai trò của chính phủ là thúc đẩy quyền tự chủ cá nhân và sự vận động của xã hội. Các chính sách được thiết kế sao cho mỗi cá nhân có sự tự chủ cao nhất và ít phụ thuộc vào người khác nhất. Ví dụ việc tách bạch thuế khóa và thu nhập giữa vợ và chồng trong gia đình tạo ra tính tự chủ cho mỗi người. Việc tạo tính tự chủ cá nhân này đã giúp cho mỗi người được đeo đuổi những mục tiêu ưa thích của mình và không bị ràng buộc hay phụ thuộc vào những người khác. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân chính để người dân ở các nước này vẫn chăm chỉ làm việc cho dù thuế cao và phúc lợi xã hội hào phóng.

Trong giai đoạn 1870-1970, các nước bắc Âu đã có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhờ những cải cách tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh như việc thiết lập các ngân hàng hay tư nhân hóa việc quản lý và khai thác rừng. Tuy nhiên, sự mở rộng quy mô không có kỷ luật của nhà nước đã chặn đà tăng trưởng trong thập niên 1970-1980. Sau đó, những người ủng hộ thị trường tự do đã tạo ra một kết quả đáng kinh ngạc bằng việc quyết tâm cắt giảm các khoản chi tiêu công và thiết lập môi trường kinh doanh tự do (Economist 2013). Thực ra, trong thập niên 1980-1990, các nước này cũng đã trải qua những cuộc khủng hoảng hết sức nghiêm trọng. Theo Klas Eklund (2011), sự ổn định gần đây và không bị tác động nhiều bởi cuộc khủng hoảng năm 2008 của những quốc gia này là nhờ họ đã học được những bài học từ trước đó. Kinh nghiệm và kỹ năng quản lý khủng hoảng của họ là điều nên học.

Tóm lại, công thức thành công của các nước bắc Âu thực ra không có gì là bí mật cả. Tôn trọng các quy luật của thị trường, tôn trọng tự do của các cá nhân và một nhà nước hữu hiệu vì lợi ích của người dân là chìa khóa thành công. Tuy nhiên đây là điều rất khó bắt chước. Trong đó yếu tố xây dựng lòng tin để tạo ra một xã hội cố kết là cực kỳ quan trọng. Hơn thế, mô hình này hiện đang gặp nhiều thách thức với tiến trình toàn cầu hóa, người nhập cư gia tăng làm cho tính đồng nhất trong xã hội ở các nước này giảm đi.

Tags:

LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM (P3)

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
3 nhận xét

KHI NHÀ NƯỚC LÀM THAY THỊ TRƯỜNG


1. Từ Marx đến sự thất bại của mô hình kinh tế XHCN thuần túy

Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bước vào thời kỳ đỉnh cao thì cũng là lúc người ta biết đến Karl Marx với Tư bản luận, Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử,... Marx cho rằng lịch sử của xã hội loài người là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Xã hội loài người trải qua 5 hình thái gồm: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và cuối cùng là xã hội cộng sản. Chủ nghĩa tư bản chỉ là một giai đoạn tiến hóa trong phát triển kinh tế và cuối cùng nó sẽ được thay thế bởi một thế giới không có chế độ tư hữu (Marx 1867&1894). Con người không vị kỷ mà có thể vì cái chung; chế độ công hữu là ưu việt; cuối cùng, trong xã hội cộng sản, con người sẽ làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu là những lập luận của Marx.

Tiên đoán của Marx về xã hội cộng sản có thể sẽ xảy ra trong tương lai. Sự thành công ở các nước Bắc Âu hiện nay, hay việc cung cấp nhiều phúc lợi xã hội cho người dân ở các nước phát triển đang chứng minh các luận điểm của Marx về một xã hội tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, các học thuyết của ông được xây dựng cách đây khoảng 150 năm trong bối cảnh trình độ phân công sản xuất của xã hội, các tiến bộ công nghệ đang ở mức thấp nên nhiều điểm đã sớm trở nên không phù hợp như phân tích ở phần III dưới đây. Hơn thế, một số học thuyết của Marx đã bị hiểu sai, hay được áp dụng không đúng đã để lại những hậu quả tai hại. David Harvey (2010), người đi tiên phong nghiên cứu và phát triển các luận điểm của Marx và liên tục dạy “Tư bản luận ” từ năm 1971 đến nay đã chỉ ra rằng:

Tư bản luận đã phân tích rất khoa học về tư bản chủ nghĩa nhưng không nói nhiều đến cách thức xây dựng một cuộc cách mạng cộng sản. Hoặc chúng ta cũng không thể tìm thấy nhiều về một xã hội cộng sản trông như thế nào.

Cuộc cách mạng vô sản đã thành công và Khối XHCN đã được hình thành sau khi Vladimir Lenin đưa thêm luận điểm về bạo lực cách mạng và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng tháng Mười. Sự phát triển thần kỳ của Liên Xô trong một thời gian không chỉ gây ra sự ngộ nhận ở các nước XHCN mà cả với một số học giả phương Tây. Năm 1961, Paul Samuelson, người Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel Kinh tế đã viết trong quyển Kinh tế học - giáo trình kinh tế nổi tiếng nhất thế giới lúc bấy giờ:

Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Liên Xô bằng khoảng một nửa của Hoa Kỳ, nhưng Liên Xô đang tăng trưởng nhanh hơn. Kết quả mà bất kỳ ai cũng có thể dự đoán rằng GNP của Liên Xô sẽ vượt qua GNP của Hoa Kỳ sớm thì vào năm 1984, chậm thì vào năm 1997 và trong bất kỳ tình huống nào thì GNP của Liên Xô cũng sẽ đuổi kịp GNP của Hoa Kỳ.

Hai thập kỷ sau, Samuelson vẫn giữ quan điểm của ông, và chỉ thay hai mốc thời gian bằng 2002 và 2012 (Samuenson 1978). Tuy nhiên, nhiều người đã chỉ ra rằng mô hình kinh tế XHCN không bền vững. Trong tác phẩm “Đường về Nô lệ”, Hayek (1944) cho rằng:

Tất cả các hình thức của chủ nghĩa tập thể kể cả những mô hình hợp tác tự nguyện chỉ có thể được duy trì bởi một chế độ tập quyền. Chủ nghĩa xã hội cần một mô hình kinh tế tập trung mà kết quả tất yếu sẽ dẫn đến độc tài.

Những nghiên cứu về hành vi tập thể của James Buchanan, Mancur Olson và Gordon Tullock cho thấy trong tập thể mọi người đều tư duy một cách duy lý nhưng đưa ra những kết quả hay hành động phi lý về mặt tập thể. Câu chuyện “Đổ than” để đạt kế hoạch vào năm 1979 ở Việt Nam trong loạt bài “Đêm trước Đổi mới” của Báo Tuổi Trẻ năm 2005 là một ví dụ điển hình:

Nỗi ám ảnh không đạt chỉ tiêu đe dọa số phận chính trị của tất cả ban lãnh đạo công ty, đến đồng lương tất cả cán bộ công nhân cũng như danh hiệu thi đua của toàn đơn vị. Không thể “bó tay”, ban lãnh đạo công ty quyết định ăn ngủ tại công trường, thức trắng đêm cùng công nhân, vượt qua sương muối, gió may miệt mài khai thác cho bằng đủ chỉ tiêu được giao. Công việc lúc này bận rộn và khó khăn gấp đôi bình thường vì sau khi mất công khai thác, công ty còn mất một công nữa là... đổ than đi. Đổ xuống vực, xuống suối, xuống hang... hay bất cứ đâu cũng được (Xuân Trung và Quang Thiện 2005).

Ở đâu cũng vậy, Việt Nam, Liên Xô hay Trung Quốc, nông dân chỉ tập trung vào mảnh đất 5% của mình mà không quan tâm đến việc chung. Mô hình kinh tế tập thể, kinh tế kế hoạch đã đi vào ngõ cụt như phân tích của Janos Kornai (1992). Những gì xảy ra thực tế ở ngay các nước XHCN cũng đã chỉ ra rằng con người là vị kỷ chứ không vì cái chung. Họ không có động cơ làm việc khi không có sự đền bù xứng đáng cho nỗ lực cá nhân. Công hữu không thể tạo ra sự phá hủy sáng tạo như lập luận của Joseph Alois Schumpeter (1942).

Nhà nước không thể làm thay thị trường. Mô hình XHCN theo kiểu cưỡng bức và duy ý chí mà chính nó đã vi phạm ngay phép biện chứng của Marx đã thất bại. Gần như tất cả các nước XHCN đã tiến hành cải cách kinh tế để áp dụng các quy luật của thị trường. Cải cách theo “vụ nổ lớn” cũng như “dò đá sang sông” đều đã được áp dụng và cho kết quả pha trộn.

2. Cải cách “vụ nổ lớn”: Thành công và thất vọng

Sau thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch, các nước Đông Âu và Liên Xô đã cải cách theo kiểu “vụ nổ lớn” để “xóa đi tất cả làm lại từ đầu” (như Petroiska ở Liên Xô). Hầu hết tài sản Nhà nước được tư nhân hóa. “Sau một đêm”, các thể chế kinh tế tập trung được thay bằng các thể chế thị trường. Với cách tiếp cận này, một số nước đã có được những thành công nhất định, trong khi một số khác chỉ đem lại sự thất vọng cho công chúng cùng với bất ổn xã hội.

Các nước Đông Âu đã trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu (EU) như Czech, Hungary, Bungary hay Ba Lan, nói chung là đã thành công với mức độ phát triển hay tiến bộ xã hội tiệm cận với các nước phát triển. Lý do của sự thành công là (1) không ít thì nhiều về cấu trúc xã hội, hay văn hóa của các nước này cũng có những tương đồng với các nước Tây Âu; và (2) quan trọng nhất là sức ép để trở thành thành viên của EU đã buộc các nước Đông Âu phải tiến hành cải cách nhanh chóng và xây dựng các thể chế thị trường trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật hay pháp quyền giống như các nước khác trong EU. Tuy có được những thành công ban đầu, nhưng các nước này vẫn đang phải đối mặt với những mặt trái của kinh tế thị trường.

Đối với Liên bang Nga, có hai quan điểm trái chiều và người viết bài thuộc về nhóm cho rằng cải cách của nước Nga đã không thành công trên thực tế. Phần lớn khối tài sản khổng lồ (như khai thác tài nguyên và buôn bán vũ khí chẳng hạn) của một quốc gia từng được xem là hùng mạnh nhất thế giới đã rơi vào tay một số ít người. Khi mà pháp quyền không được tôn trọng để chống lại tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, quy luật khắc nghiệt nhất của kinh tế thị trường, thì một xã hội bất công cho phần lớn dân chúng đã được tạo ra. Những xung đột xã hội hay sắc tộc gần đây chính là hậu quả của sự bất công này. Trong đánh giá vào 01/2013, với tựa đề Những kịch bản cho Liên bang Nga, Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos Thụy Sỹ đã chỉ ra những vấn đề rất cơ bản của Nga (WEF 2013a). Hơn 50% những người làm trong những lĩnh vực chuyên môn quan trọng cho một nền kinh tế đang tìm kiếm cơ hội rời khỏi nước Nga. Khả năng giá năng lượng trên thế giới giảm, cấu trúc thể chế yếu kém và thiếu lòng tin là những thách thức lớn nhất hiện nay ở Nga. Một số vấn đề của nước Nga hiện nay được thể hiện qua quan sát và so sánh khá thú vị giữa nước Nga trước thập niên 1990 và ngày nay của Ts. Lê Hồng Giang (2013).

Cải cách ở những nước thuộc Liên Xô cũ như: Ucraina, Belarus... đã đem lại sự thất vọng cho công chúng. Chán ngán với Chính phủ hiện tại, công chúng hoặc là sử dụng lá phiếu của mình, hoặc là gây bạo loạn để hình thành nên chính phủ mới. Đây chính là những cuộc cách mạng màu trong thời gian qua. Tuy nhiên, sự thất vọng đã xảy ra ngay sau đó và đưa xã hội đã rơi vào tình trạng chia rẽ và bất ổn triền miên.

Thực ra, bản chất của sự bất ổn ở Nga hay các nước thuộc cộng hòa Xô Viết trước đây là do các quan hệ thị trường đã được đưa vào quá nhanh trong khi pháp quyền không được tôn trọng và những nhân tố cơ bản của một xã hội dân sự không được quan tâm. Cho dù ai đứng trong chính phủ cũng là để bảo vệ lợi ích của số ít những người đã thâu tóm phần lớn tài sản quốc gia trong quá trình chuyển đổi. Phúc lợi xã hội không được coi trọng và quyền lợi của phần lớn người dân bị hy sinh.

3. “Dò đá sang sông”: Thành công ban đầu, nhưng...

Khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, với đặc điểm riêng của mình nhất là do đặc điểm kinh tế nông nghiệp phân tán, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế theo cách tiệm tiến hay “dò đá sang sông”. Các hoạt động kinh tế từng bước được nới lỏng để chúng tuân theo các quy luật thị trường. Kết quả rõ nhất đối với hai nước là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian rất dài trong khi vẫn duy trì được sự ổn định chính trị, xã hội. Một số chính sách cải cách của hai nước đã đem lại lợi ích cho rất nhiều người, nhất là những cải cách về đất đai, nông nghiệp và nông thôn. Sau những lúng túng ban đầu, cả hai nước này đã cố gắng tìm cách kết hợp kinh tế thị trường với các nguyên lý của XHCN mà Việt Nam gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN và Trung Quốc gọi là XHCN với đặc sắc Trung Quốc. Lựa chọn này có vẻ hiệu quả trong một thời gian, nhưng những rắc rối bắt đầu nảy sinh và ngày một trầm trọng hơn. Hiện nay cả Việt Nam và Trung Quốc đang phải đối mặt với ít nhất hai vấn đề hết sức nan giải.

Thứ nhất, cải cách kinh tế đã đi quá nhanh trong khi với mục tiêu ổn định được đặt lên hàng đầu nên cải cách hệ thống chính trị đã diễn ra khá thận trọng. Sự tương thích giữa các thể chế kinh tế và chính trị ở cả hai nước đang được tranh luận sôi nổi mà nó được biểu hiện rõ nét nhất qua bình luận của ông Nguyễn Văn An, Nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam bàn về phương thức cầm quyền của Đảng (Nguyễn Văn An 2010) và phát biểu của ông Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Trung Quốc ở Thâm Quyến hồi tháng 08/2010 (Wang Guanqun 2010).

Cải cách các thể chế chính trị như thế nào là điều không đơn giản. Nếu không cải cách để loại bỏ sự xơ cứng hay thoái hóa của bộ máy, nhất là tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm tràn lan, thì sự ổn định của các thể chế chính trị nói riêng, xã hội nói chung sẽ bị đe dọa. Tuy nhiên, việc rập khuôn một cách máy móc các thiết chế dân chủ theo kiểu phương Tây có lẽ không phải là phương cách tốt. Sự bất ổn, thậm chí là bạo loạn ở các nước thuộc Liên Xô cũ cũng như nhiều nước trong khu vực là bài học nhãn tiền cho bất cứ ai mơ về những cải cách không thực tế. Tuy nhiên, cho dù tiếp cận theo phương thức nào, thì cũng cần phải có sự cạnh tranh hay giám sát thực chất ở mỗi vị trí trong bộ máy nhà nước. Việc kìm kẹp xã hội quá lâu, không có những điều chỉnh cần thiết dẫn đến tức nước vỡ bờ và xảy ra cuộc cách mạng hoa nhài như các nước theo chế độ chuyên chế ở Trung đông là những điều cần hết sức lưu ý.

Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường hay những thất bại thị trường đang nổi lên ngày càng nhiều và gay gắt. Kinh tế thị trường đã không là chiếc đũa thần để giải quyết mọi vấn đề của mô hình kinh tế kế hoạch như nhiều người mong đợi mà nó lại gây ra rắc rối. Cái vòng luẩn quẩn thất bại của thị trường dẫn đến thất bại của nhà nước và ngược lại như Josephs Stigilitz (2000) đã phân tích cứ liên tục xảy ra. Càng tăng trưởng kinh tế, thì những người ở vị thế bất lợi càng bị thiệt thòi. Nếu cứ để cho thị trường vận hành một cách tự do theo “bản năng” của nó thì sự bất công hay các vấn đề xã hội khác sẽ trở nên ngày một nghiêm trọng hơn. Không ai khác, nhà nước sẽ phải giải quyết những vấn đề này. Tuy nhiên, câu hỏi khó nhất là nhà nước nên làm như thế nào.

Tags:

LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM (P2)

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
2 nhận xét

GIẰNG CO VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG


1. Từ Smith đến Đại khủng khoảng và Suy thoái 1929-1933

Kinh tế học hiện đại được đánh dấu bằng tác phẩm “Sự giàu có của Các quốc gia” của Adam Smith (1776). Bàn tay vô hình với lập luận con người là vị kỷ, chỉ vì mình, nhưng khi mỗi người tự do theo đuổi mục đích cá nhân thì cả xã hội sẽ cùng khấm khá là lý thuyết nổi tiếng nhất của ông. Nhờ lý thuyết này mà Smith được xem là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Ông cũng chỉ ra chuyên môn hóa giúp tăng năng suất lao động mà nó là cơ sở để David Ricardo (1817) đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh trong tác phẩm “Về những Nguyên lý của Kinh tế Chính trị học và Thuế khóa ”. Trước đó, phải kể đến lập luận về quyền tư hữu vô cùng quan trọng của John Locke (1689) với tác phẩm “Luận giải Thứ hai về Chính quyền Dân sự”.

Thị trường tự do gắn với tư hữu về tài sản và thuyết trọng thương đã trở thành chủ thuyết kinh tế chính ở nhiều nước. Nhờ công nghiệp hóa và ngoại thương mà “mặt trời không bao giờ lặn trên vương quốc Anh”. Khi khuyến khích thị trường tự do, Mỹ dần trở thành tâm điểm của thế giới từ đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, trục trặc bắt đầu xảy ra.

Có rất nhiều cơ hội kinh doanh khi nền kinh tế đang tăng tốc, nhưng đầu cơ tài sản là dễ và trực quan nhất. Vô số doanh nghiệp và cá nhân đã đổ xô đầu cơ vào bất kỳ tài sản nào đang lên giá mà không quan tâm đến cầu thực chất của chúng. Trong đó, những tổ chức tài chính đang giữ tiền của người khác là bạo tay nhất. Họ đã đem tiền gửi của công chúng đi đầu cơ tài sản. Một vòng xoáy tăng giá đã xảy ra. Nhiều người kỳ vọng giá lên đã đổ xô mua một số loại hàng hóa hay tài sản nào đó. Kết quả giá lên do cầu tăng đột biến. Chỉ trong vòng 8 năm từ 1921-1929, Dow Jones, chỉ số chứng khoán chính của Mỹ lúc bấy giờ đã tăng bình quân 25%/năm. Đăc biệt giai đoạn 1924-1929 lên đến 33%/năm. Giá lên lại củng cố phán đoán của những người mua là đúng và họ lại tiếp tục mua. Từ đây gây ra bong bóng tài sản và những rắc rối sau đó.

Thêm dầu vào lửa bằng việc tung quá nhiều tiền vào nền kinh tế tạo ra các cơ hội đầu cơ ở đầu thập niên 1920 là sai lầm nghiêm trọng của Ngân hàng Trung ương Mỹ (FED) như Friedrich Hayek (1963), một trong những học giả nổi tiếng nhất của trường phái kinh tế Áo đã chỉ ra trong tác phẩm “Đại suy thoái của Mỹ”. Các cá nhân và doanh nghiệp đã đeo đuổi mục tiêu cá nhân của mình và tập trung vào những cái lợi ngắn hạn trước mắt nên đổ xô đi đầu cơ tài sản. Hậu quả là, sự mất cân đối trầm trọng giữa giá trị tài sản bị đẩy lên do đầu cơ và sự phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thực dẫn đến khủng hoảng.

Sự mầu nhiệm của thị trường tự do là đúng trong hầu hết các trường hợp, nhưng khiếm khuyết hay thất bại thị trường luôn hiện hữu. Do vậy, cần có vai trò của nhà nước. Lúc này, những tranh luận và sự định hình lại vai trò của nhà nước lại trở nên sôi động.

2. Từ Keynes đến Khủng hoảng Tài chính 2008-2010

Khi khủng hoảng đang xảy ra, trường phái kinh tế chính thống theo quan điểm thị trường tự do ở những năm 1930 đã kêu gọi chính phủ thắt chặt chi tiêu cho đến khi niềm tin của thị trường được khôi phục trở lại trong dài hạn. Nói một cách đơn giản là thị trường có khả năng tự điều chỉnh và nhà nước không cần phải can thiệp. Tuy nhiên, John Maynard Keynes, nhà kinh tế người Anh có tầm ảnh hưởng nhất thế giới trong thế kỷ 20 không nghĩ như vậy. Ông cho rằng không thể đợi thị trường tự phục hồi mà cần vai trò chủ động của nhà nước với câu nói nổi tiếng: “Trong dài hạn là khi tất cả chúng ta đã chết.” Những lập luận mang tính hệ thống, khoa học và có ảnh hưởng nhất của ông được trình bày trong “Lý thuyết Tổng quát về Thất nghiệp, Lãi suất và Tiền tệ ” (John Maynard Keynes 1935).

Nghe theo lời Keynes, Chính phủ Mỹ đã quyết định can thiệp một cách chủ động bằng Gói kích thích kinh tế (New Deal). Kết quả, sau gần một thập kỷ Mỹ đã thoát ra khỏi Đại khủng hoảng và suy thoái kinh tế 1929-1933. Tuy nhiên, Keynes cho rằng sở dĩ suy thoái kéo dài là do can thiệp của Chính phủ Mỹ chưa đủ đô. Song song với kích thích kinh tế, Chính phủ Mỹ cũng đã giới hạn hoạt động của các tổ chức tài chính - nhân vật trung tâm của nền kinh tế tư bản. Luật Glass-Steagall năm 1933 như chiếc vòng kim cô đặt lên đầu ngăn không cho các tổ chức tài chính tự do lao vào những hoạt động kinh doanh rủi ro. Một trong những điểm quan trọng nhất là hoạt động của ngân hàng thương mại (tập trung vào huy động vốn ngắn hạn và cho vay ngắn hạn), các ngân hàng đầu tư (kinh doanh trên thị trường chứng khoán) và bảo hiểm phải tách bạch rạch ròi. Điều này đã giúp Mỹ cũng như các nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới tránh được những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong hơn 7 thập kỷ.

Keynes đã thành công với “Đại khủng hoảng và suy thoái”. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ 20, chủ thuyết của ông bị tấn công dữ dội bởi Trường phái kinh tế Chicago, những người dựa vào giả định kỳ vọng hợp lý trong thị trường tự do. Theo trường phái này thì thị trường tự do có thể tự điều chỉnh nên cần được tôn trọng và nên giảm thiểu tối đa việc can thiệp của nhà nước.

Trong số những nhà kinh tế thuộc trường phái Chicago, Milton Friedman được xem là người có ảnh hưởng lớn nhất trong kinh tế học ở cuối thế kỷ 20. Trong tác phẩm “Một lịch sử Tiền tệ của Hoa Kỳ” năm 1963 với đồng tác giả Anna Schwartz, Friedman cho rằng mức giá chung của nền kinh tế là do lượng tiền quyết định và lạm phát là do mất cân đối tiền - hàng. Do vậy, nhà nước chỉ nên theo một chính sách tiền tệ trung tính đảm bảo cân đối tiền -hàng và thị trường sẽ tự hóa giải được những trục trặc và cả xã hội có được sự phồn vinh chứ không cần vai trò chủ động của nhà nước. Cũng đổ lỗi FED là thủ phạm chính gây ra đại suy thoái của Mỹ là trong giai đoạn 1929-1933, nhưng khác với Hayek (1963), Friedman cho rằng nguyên nhân chính là do FED đã thắt chặt tiền tệ quá tay dẫn đến mất cân đối tiền hàng làm cho việc lưu thông hàng hóa và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế gặp khó khăn.

Từ cuối thập niên 1970, các học thuyết kinh tế bắt đầu nở rộ và phân nhánh. Kể từ đây, quan điểm hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào thị trường tự do cũng dần trở thành chủ thuyết chính thống ở các nước theo nền kinh tế thị trường như phân tích của Daniel Yergin và Joseph Stanislaw (1998) trong “Những đỉnh cao chỉ huy” Đặc biệt là khi có sự ăn ý của bộ đôi quyền lực giữa Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cùng với sự thất bại của mô hình kinh tế XHCN thuần túy. Milton Friedman là một cố vấn quan trọng bậc nhất của Reagan. Sự thắng thế của trường phái tự do thể hiện rõ nhất qua nỗ lực vô hiệu hóa Luật Glass-Steagall của Alan Greenspan và những người cùng quan điểm. Năm 1999, Luật này đã bị vô hiệu hóa, các tổ chức tài chính lại được tự tung tự tác. Một lần nữa các hoạt động của ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và bảo hiểm lại được trộn lẫn với nhau. Hậu quả là chỉ sau một thập kỷ, nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng tồi tệ kể từ thập niên 1930 với quá trình được mô tả một cách đơn giản trong Hộp 1 .

Hộp 1: Con đường dẫn đến khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng 2008-2010 bắt nguồn từ thị trường nhà đất với những khoản vay dưới chuẩn mà nó có thể hình dung một cách đơn giản như sau:

Gia đình ông Tom chỉ có thể thuê nhà 1500 đô-la/tháng. Tuy nhiên, các tổ chức tài chính đã nói rằng họ sẽ cho ông Tom vay gần như toàn bộ để mua một căn nhà 500.000 đô-la. Khoản vay chỉ cần được đảm bảo bằng chính ngôi nhà mới. Ông Tom được giải thích rằng, với lãi suất 6%/năm, nếu trả đều trong 30 năm thì hàng tháng khoản phải trả (cả gốc và lãi) vào khoảng 3000 đô-la. Điều này nằm ngoài khả năng của gia đình ông, nhưng ngân hàng chỉ yêu cầu ông trả 1500 đô-la/tháng trong hai năm đầu và phần lãi chưa trả sẽ nhập gốc. Đến cuối năm thứ hai, tổng số nợ dồn tích chỉ là 525.000 đô-la hay tăng 5%. Nếu giá nhà đất sau hai năm tăng 10% thì ông Tom có thể bán lại căn nhà lấy 25.000 đô-la tiêu xài mà không phải quan tâm đến những năm tiếp theo. Hàng triệu gia đình Mỹ đã bị thuyết phục cho dù về bản chất, họ không có khả năng trả nợ.

Sau đó, bên cho vay đóng gói các khoản vay dưới chuẩn nêu trên để tạo ra chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities), đồng thời hoặc là yêu cầu các công ty bảo hiểm bảo lãnh khoản vay với mức phí 2%/năm hoặc là tạo ra một quyền chọn bán khoản vay (hay các loại chứng khoán phái sinh khác) với mức phí 4%/năm hoặc cả hai. Vào cuối năm thứ hai, nếu giá của căn nhà thấp hơn 525.000 đô-la và gia đình ông Tom không thể trả nợ thì người giữ quyền có quyền bán khoản vay cho bên bán quyền với giá 525.000 đô-la. Lúc này, từ dưới chuẩn khoản vay đã trở thành chất lượng cao (xếp hàng AAA) với suất sinh lợi 2%/năm.

Sau hai năm, nếu giá bất động sản tăng hơn 5% thì gia đình ông Tom vừa được ở trong căn nhà tốt hơn lại có thêm tiền bỏ túi nếu bán căn nhà. Nếu không muốn bán căn nhà, thì bên cho vay sẽ tái cấu trúc khoản vay để đảm bảo rằng khoản trả nợ hàng tháng vẫn chỉ là 1500 đô-la hay cao hơn chút đỉnh. Đổi lại ông Tom sẽ phải trả thêm một mức phí và lãi suất tăng lên 8%/năm chẳng hạn. Qua vài lần tái cấu trúc các khoản nợ thì gánh nặng lãi suất trở nên rất khủng khiếp. Tuy nhiên, không mấy ai quan tâm khi mà giá bất động sản (Chỉ số S&P/CASE- SHILLER) đã tăng bình quân 14%/năm từ đầu năm 2000 đến giữa năm 2006.

Trên thực tế, gia đình ông Tom chỉ có thể trả 1.500 đô-la/tháng, nhưng các tổ chức tài chính đã tạo ra một dòng thu nhập không có thật lên đến 2.500 đô-la/tháng (thậm chí là cao hơn) để chia nhau. Phần tăng thêm này thực chất được trả bằng tiền của những người gửi tiền hay ăn vào vốn gốc.

Điều gì phải đến đã đến. Kể từ đỉnh điểm vào giữa năm 2006 đến 03/2009, chỉ số S&P/CASE-SHILLER đã giảm 33%. Hàng triệu gia đình Mỹ hoặc là bị siết nợ hoặc là trả lại nhà cho bên cho vay vì giá trị căn nhà nhỏ hơn khoản nợ phải trả. Các tổ chức tài chính với các quan hệ dây tơ rễ má chằng chịt với nhau đã không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ của mình. Hậu quả là khủng hoảng đã xảy ra khi mà dòng tiền từ các tài sản tạo ra trên thực tế thấp hơn nhiều so với giá trị các khoản nợ và cả xã hội phải gánh chịu hậu quả.

Trong cuộc chơi này, những người điều hành các tổ chức tài chính là vớ bẫm nhất với hàng trăm triệu đô-la tiền thưởng như mô tả trong bộ phim tài liệu “Người trong cuộc” của Charles Ferguson (2010). Tuy nhiên, khi khủng hoảng xảy ra, cùng lắm họ cũng chỉ mất việc, trong khi những khoản tiền thưởng đã chi thì không thể thu hồi. Đây chính là mâu thuẫn giữa người sở hữu và người thừa hành và vấn đề này sẽ được phân tích trong các phần sau.

Thực ra, tất cả các loại tài sản tài chính được tạo ra nêu trên đều dựa trên những khoản vay mà về bản chất người đi vay không có khả năng trả nợ. Do vậy, những giấy nợ được chúng đảm bảo dường có giá trị rất thấp. Tuy nhiên, qua sự nhào nặn của các tổ chức tài chính, chúng đã được biến thành hàng chất lượng cao với giá trên trời. Điều này giống như giảo thuật biến đá thành vàng (alchemy) mà thời cổ đại nhiều người đã cất công tìm kiếm nhưng đều bất thành. Các công cụ bảo hiểm đã biến thành các công cụ bài bạc trên một thị trường với sự tự do cao độ cho các tổ chức tài chính. Joseph Stiglitz (2010) đã chỉ ra rằng nguyên tắc không có gì là miễn phí của kinh tế học đã bị vi phạm. Người vay đã được thuyết phục rằng không cần phải lo lắng đối với các khoản vay vì theo thời gian giá bất động sản sẽ lên, phần chênh lệch thu được không chỉ đủ để trả nợ mà còn có thể sắm xe hơi hay chi tiêu cho những kỳ nghỉ, điều không thể xảy ra trong thực tế.

Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng năm 2008 không khác nhiều so với gần tám thập kỷ trước đó. Joseph Stiglitz (2010), nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2001 đã phân tích rất kỹ các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng trong tác phẩm “Rơi tự do: Hoa Kỳ, Các thị trường Tự do, và Sự chìm đắm của Nền kinh tế Thế giới ” vào năm 2010. Lòng tham và sự vị kỷ của các cá nhân và doanh nghiệp một lần nữa đã đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng. Về mặt lý luận, Gs.Trần Hữu Dũng (2010) đã có một nhận định rất súc tích:

Thủ phạm sâu xa nhất [của cuộc khủng khoảng] không phải là vài cá nhân, một số công ty tài chính, thậm chí thể chế chính trị hay kinh tế, mà là một trường phái tư tưởng. Tư tưởng ấy là sự chấp nhận quá dễ dãi, thiếu phê phán, ý niệm “thị trường tự do” ảo huyền và không tưởng. Chính ý niệm ấy, và những hệ luận “lô gích” (và chỉ là lô gích!) của nó, là nền móng trí thức, là một lăng kính để nhìn thực tế, mà “ngành kinh tế” (cụ thể ở các nước tư bản) đã chấp nhận gần suốt nửa thế kỷ qua, và được tôn sùng bởi những người làm chính sách như Alan Greenspan. Hệ tư tưởng ấy đã khống chế kinh tế học, trở nên lý thuyết “kinh tế học dòng chính” (mainstream economics), đôi khi gọi là “trường phái Chicago”.

Tuy nhiên, giờ đây nền kinh tế thế giới đã trở nên tinh vi hơn nên sức đề kháng tốt hơn. Hơn thế, khả năng ứng phó với khủng hoảng của các nước phát triển cũng tốt hơn (Bộ Tài chính Mỹ 2012). Sau khi để cho Bear Sterns và Lehman Brothers, hai trong 5 ngân hàng đầu tư lớn nhất ở Mỹ phá sản để phát đi tín hiệu rằng quá lớn nhưng vẫn có thể thất bại, thị trường bắt đầu có dấu hiệu hoảng loạn. Chính phủ Hoa Kỳ cùng với nhiều nước khác đã kịp thời phát ra thông điệp không để hệ thống tài chính sụp đổ, khác với việc “đóng cửa” cung tiền và để cho các tổ chức tài chính phá sản hàng loạt dẫn đến sự hoảng loạn của thị trường và đẩy nền kinh tế rơi vào suy thoái trong giai đoạn 1929-1933 - điều mà Milton Friedman đã chỉ ra trước đó. Một lượng tiền đủ lớn đã được bơm vào nền kinh tế để tránh sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính. Sau gần 5 năm, nhiều vấn đề vẫn còn đang ngổn ngang, nhưng cơ bản nền kinh tế thế giới đã qua khỏi cơn khủng hoảng nghiêm trọng điều này đã được tuyên bố tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sỹ tháng 01/2013 (Joe Weisenthal 2013). Tuy nhiên nhiều hệ lụy của cuộc khủng hoảng vẫn còn đó.

Điều làm cho không ít người ngạc nhiên là tại sao cả FED và Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) đã bơm một lượng tiền khổng lồ để tránh sự đổ vỡ dây chuyền của hệ thống tài chính nhưng tình trạng lạm phát phi mã lại không xảy ra? Nhìn vào Mỹ, Martin Feldstein (2013) đã chỉ ra rằng, thực ra trong giai đoạn 2008-2012, FED đã bơm cho các tổ chức tài chính, các ngân hàng khoảng 2 nghìn tỷ đô-la, nhưng do kinh tế đang bất ổn, các doanh nghiệp khó mở rộng hoạt động, kinh tế suy thoái, trong khi FED lại có cơ chế trả lãi tiền gửi nên các tổ chức tài chính đã gửi tại FED 1,8 nghìn tỷ đô-la. Do vậy cung tiền trên thực tế đã tăng rất ít và không gây ra lạm phát.Tuy nhiên, điều này không thể đảm bảo trong tương lai khi mà nhu cầu vay mượn gia tăng, các ngân hàng mở rộng tín dụng thì lạm phát hoàn toàn có thể xảy ra.

Tags:

TS TRẦN ĐĂNG TUẤN VÀ VĂN HÓA TỪ CHỨC

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014 7 nhận xét

Chiềng Chạ
Thời gian gần đây người ta nói nhiều về cái gọi là "văn hóa từ chức". Mới nghe qua thì đây là điều có vẻ hơi vô lý, bởi cùng với nhịp sống công nghiệp nhiều người đã thực dụng hơn trong bước đường thăng tiến công danh và để đạt được những nấc thang danh vọng có người đã không tiếc một thủ đoạn nào, kể cả hành vi bẩn. Nhưng, lẩn khuất đâu đó trong cuộc sống ào ào và tấp nập ấy không phải đã hết những con người luôn biết những điểm dừng, biết cái gì cần cho xã hội và cho mình. Họ đã từ chức khi thấy mình không còn hợp với xu thế chung, không thể đi trên "chiếc giày" mà vô tình đã quá khổ. Lựa chọn sự thoái lui sau những năm tháng cống hiến đằng đẵng là sự lựa chọn muộn mằn là cách làm của Tiến sỹ Trần Đăng Tuấn - Nguyên Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam nhưng từng ấy thôi cũng nói lên giá trị khó chen lẫn của riêng ông. Và cho đến nay, chưa ai dám nói sự lựa chọn ấy của ông là sai lầm. Bài viết sau được đăng trên Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam có thể xem là một đánh giá đầy đủ về con người này trên khía cạnh "văn hóa từ chức". 

Nhà báo Trần Đăng Tuấn nổi lên như một “người hùng” khi làm đơn từ chức Phó Tổng Giám đốc thường trực Đài Truyền hình Việt Nam (VTV). Ở một xã hội không có văn hóa từ chức, thì hành động của Trần Đăng Tuấn chỉ là một cái cớ “lộ diện” để chúng ta biết nhiều hơn về một con người, về sự đời nói và làm khác biệt.

1. Điều mà Trần Đăng Tuấn là có một không hai trong lịch sử 40 năm VTV, cũng như trong lịch sử nghị trưởng Việt Nam đương đại. Sai phạm tày đình, tham nhũng khắp nơi, chỉ đến khi bị lộ, bị yêu cầu làm đơn từ chức như một cách cho giữ chút thể diện khi mất chức hoặc giáng cấp, thuyên chuyển, những kẻ tham lam sâu mọt mới bất đắc dĩ làm.
Trần Đăng Tuấn không vi phạm những điều nổi cộm ấy, chẳng có lỗi gì, nhiều công là đằng khác. Vậy tại sao phải làm thế? Số đông tiếc nuối, thắc mắc không hiểu nổi tại sao có một nhà báo uy tín, tiếng tăm hàng đầu của VTV lại làm một việc đột ngột, thua thiệt như vậy. Người ta bàn ra tán vào đủ lý do. Sự thực đích xác thế nào thì chỉ mình ông Trần Đăng Tuấn mới rõ. Xưa nay Trần Đăng Tuấn vốn là người ít nói và dù là một bậc thầy truyền thông, ông cũng rất kiệm xuất hiện trên báo, đài.
Trần Đăng Tuấn không cần trả lời, bình luận về kẻ sĩ, vai trò kẻ sĩ. Vì như nhiều người nói ông chính là một kẻ sĩ thời hiện đại.

Thời Phong kiến, nam nhi học để ra làm quan, để có địa vị trong xã hội “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nếu không hợp thế thời, bị đè nén trù dập hay không được trọng dụng hoặc chán nản mà “ưu thời mẫn thế”, thì rời bỏ chốn phồn hoa, cáo quan về quê ở ẩn. Sống ở quê, trồng rau, nuôi cá, lao động chân tay mà “tránh sự đời” dù vẫn âm ỉ nuôi mộng sĩ phu. Có người sẽ trở lại quan trường khi được mời, trọng dụng; người nuôi chí nhưng làm cố vấn cho hậu bối tâm phúc, đệ tử thay mình tiếp nối, kẻ lại rũ hẳn khát vọng, lảng tránh sự đời, gửi tâm sự vào thơ phú vịnh ngâm.

Tinh thần trọng danh dự một cách cực đoan, dùng cái chết để tỏ lòng, để chứng minh phẩm giá của đạo sĩ Nhật Bản cũng có trong không ít kẻ sĩ Việt phẩm tiết thời xưa. Ngày nay, trí thức đông lên, kẻ sĩ ít đi. Trí thức hiện giờ phần thì có “trí” nhưng “vơi” thức, phần thì có “thức” mà “trí” mỏng, số đông thúc thủ an phận. Tựu chung là lắm kẻ hèn.

Cuộc đấu tranh giữa chức vụ, bổng lộc lòng tham, danh tiếng với phẩm tiết trong sáng và đáng kính, luôn tạo tỉ lệ nghịch.

Trần Đăng Tuấn, người có công sáng lập VTV3 và Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC), trong mắt nhiều các nhà báo và giới nghệ sĩ là một người rất thông minh, mà lại mang tiếng “dại”. Ông chỉ còn là “cựu” “nguyên” phó TGĐ VTV, một chức vụ nhiều người mơ mà ông đã bỏ, thực tế đó là vị trí thành đạt nhất trong cuộc đời làm báo của ông. Song ở đời, ai tường minh, ngã ngũ “khôn – dại” đến cùng?!

2. Trần Đăng Tuấn đang sống tại căn hộ chung cư tầng 23 một cao ốc 25 tầng trên phố Hoàng Đạo Thuý. Vợ ông, BTV Nguyễn Thị Ngọc Trâm (SN 1963) vốn là phát thanh viên của VTV, khi ông về Đài làm phó rồi Trưởng Ban Thời sự. Từng học ĐHSK - ĐA khoa Diễn viên, nhưng cô gái Hà Nội Ngọc Trâm lại theo nghề truyền hình, làm báo. Hiện bà là đạo diễn, người phụ trách chương trình Vì người nghèo, Ban Chuyên đề, VTV con trai. Con chung duy nhất của họ cũng là con trai độc nhất của Trần Đăng Tuấn, cậu bé Trần Chí Hiển rất giống cha, đang học lớp 8 Trường Quốc tế Pháp. Tương lai cậu bé sẽ du học Pháp.
Nhà báo Trần Đăng Tuấn và bà Lê Thị Liên (vợ của ông Kim Ngọc, vợ cố Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú) tại Vĩnh Phúc 2010.
Ít ai biết, Trần Đăng Tuấn đã và đang là một người thầy. Ông hiện là Tổng Giám đốc Tập đoàn AVG, trụ sở 15 Hồ Xuân Hương, sát báo Tiền phong. Ông hay di chuyển trên một chiếc ô tô 15 chỗ, có tài xế riêng. Ông vẫn làm thầy dạy báo chí, truyền hình, đó là khởi nghiệp của ông.

Trong ngôi nhà có sân, vườn rộng ở Mỹ Đình, bố mẹ ông đang sống. Cụ ông, Trần Phạm Mô là một và cụ bà đều là những công nhân chân chất ở TP dệt Nam Định. Yêu văn chương chữ nghĩa, lại sống ở Thành Nam, một trường thi lớn của miền Bắc cuối thế kỷ XIX đầu XIX, đất học nức tiếng, cụ Trần Phạm Mô kỳ vọng vào các con trai của mình bằng việc đặt tên những người anh hùng: Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản. Con trai trưởng và cô út Trần Phương Mai có gương mặt giống bố.

3. Trần Quốc Tuấn học giỏi từ nhỏ, từng đoạt giải học sinh giỏi văn miền Bắc. Cậu bé Tuấn ham đọc sách, thậm chí đi ngủ còn lén đem sách chui vào màn đọc nên bị cận, biệt danh Tuấn “kính” ra đời từ đấy. Thi đại học đỗ cao được chọn du học nước ngoài. Anh theo học Đại học Tổng hợp Matxcơva Lomonosov (MGU), khoa Báo chí từ 1975 – 1981. Anh tự đổi tên mình là Trần Đăng Tuấn cho bình dị hơn.

Từ Liên Xô về, anh giảng dạy Báo chí tại Phân viện Báo chí & Tuyên truyền (từ 2006 lên Học viện). Cùng nhiều giảng viên khác, anh ở căn hộ tập ngay đầu dãy giữa khu tập thể giáo viên. Những năm 90 thế kỷ trước, khu nhà hay bị ngập nước. Rồi bà mẹ lên ở cùng chăm sóc anh khi vợ chồng anh ly hôn, con gái Hương Thuỳ sống với mẹ.

Cho đến nay, người xem và giới nghề vẫn nhắc tới Trần Đăng Tuấn -một trong các nhà bình luận quốc tế hàng đầu của ngành truyền hình nói riêng và giới báo chí VN. Ông không chỉ trần thuật, kết nối sự kiện như tình trạng phổ biến của những bài/ lối bình luận thường thấy, mà luôn sắc sảo trong nhận định, dự đoán, kiến giải. Người xem mê Trần Đăng Tuấn bình luận quốc tế, quên dung nhan gày gò, khuôn mặt có vẻ khó tính với đôi mắt nhỏ sau cặp kính cận 7,50. Thỉnh thoảng ông vẫn trở lại trường cũ giảng dạy hay tập huấn cho phóng viên các đài địa phương. Em gái ông cũng nối tiếp làm giảng viên Báo ảnh. Khu tập thể giáo viên, người bán nhà, người sang nhượng, nay toàn nhà tầng, đường lát bê tông. Em trai ông cùng vợ và 2 con gái sống tại ngôi nhà của anh. Trừ lối đi vào, còn cảnh quan đã nhiều thay đổi. Trong ký ức tôi, những gì thuộc về xưa cũ đã hằn vào tâm trí. Ngôi nhà cũ, trường cấp 1, cấp 2, trường đại học khi chưa xây dựng hiện đại – gần nhà tôi, vẫn luôn sống động trong giấc mơ, trong nỗi nhớ. Tôi chưa từng được học Trần Đăng Tuấn ở giảng đường Phân viện BC&TT, nhưng biết rõ thầy Tuấn là một người thầy giỏi, uy tín của không ít thế hệ học trò trường Báo, của các phóng viên trẻ ở VTV3, các đài, địa phương.

Lối của ký ức luôn dẫn tôi về kỷ niệm ngôi nhà tôi lúc chưa xây. Cả khu tập thể nhà cấp 4, cứ mưa là ngập nước. Mùa Hè thì mát. Chưa ai xây hộp; chỉ có tường rào, đó đây còn những rặng cúc tần. Giữa sân nhà tôi có khoảng đất trồng cây me, táo, ổi, đất hẹp mà cây rất xanh tốt. Đó là đêm Trung Thu năm 1992 khi tôi 12 tuổi. Mẹ tôi trải chiếu ra sân để bố tiếp các bạn trong đó có Trần Đăng Tuấn mà tôi gọi là ”chú”. Tôi ngồi nép một góc “hóng chuyện”. Trung Thu là Tết của trẻ con. Tôi không ham rước đèn phá cỗ với bạn, mà cứ thích ngồi nép một góc hóng hớt nghe bố và các chú nói chuyện nghề nghiệp, nghệ thuật. Hồi cấp 2, môn học phổ thông của tôi có tiếng Nga và Âm nhạc. Sách tiếng Nga in bìa cứng tím than, giấy trắng đẹp, NXB Cầu vồng Matxcơva in để phát cho nhiều trường phổ thông học, có trường học tới hết cấp 3, thành môn thi tốt nghiệp .

Chú Tuấn hỏi tôi thích nước Nga không? Có chứ, biết nước Nga qua những truyện thiếu nhi:Bông hồng vàng, Bác sĩ Aibôlit và phim hoạt hình Hãy đợi đấy... À không, còn nhiều chương trình thể thao, ca nhạc, xiếc, quay xổ số của Đài Nga, xem qua TV đen trắng, những bộ phim truyện luôn phân rõ “quân nó”, “quân mình”. Chú Trần Đăng Tuấn kể chuyện nước Nga rồi bảo tôi đem cuốn sách tiếng Nga ra. Chú hỏi tôi thích dịch trang nào, tôi chọn trang nhiều chữ nhất, ở phần chưa học, chú đọc như tiếng Việt, tôi phục quá há miệng ra. Đúng là trẻ con! Chú đã trở lại Nga làm nghiên cứu sinh, từ 1986 – 1988, là Tiến sĩ Báo chí rồi thì đọc cuốn sách tiếng Nga lớp 7 ấy nhằm nhò gì.

4. Sau này, chú Trần Đăng Tuấn về Đài THVN công việc bận rộn, tôi ít được gặp ông chỉ biết ông đã làm được kỳ tích: bỏ thuốc lá (dù trước đó nghiện nặng) và vẫn thế, ưa hài hước nhưng chỉ tủm tỉm và ít nói trong đám đông. Chú Tuấn giờ béo hơn xưa, vẫn bận rộn cả chủ nhật. Chú lúc nào cũng bận. Chú có tài tổ chức, nói, viết rất gây chú ý, ảnh hưởng. Rời chức Phó TGĐ, Chú Tuấn về VFC làm BTV bình thường. Chú chưa biên tập phim nào, đó là bước đệm rất nhỏ để chuyển qua làm ở tập đoàn AVG. Thỉnh thoảng lại đọc thơ của chú in trên An ninh thế giới, tờ báo mà nhà văn Hữu Ước khai sinh, ông cũng là người khai sinh ra ANTV, truyền hình Công an nhân dân có liên kết với AVG.

Rời chức phó TGĐ ông đi rất nhiều nơi, hình như đi để bù lại cho những năm tháng ngồi trên ghế một ông quan báo chí. Trần Đăng Tuấn thương những đứa trẻ vùng cao, ông đã nhiều lần bỏ tiền túi, vận động bạn bè lên miền núi phía Bắc làm từ thiện. Tháng 9.2011, ông lập ra chương trình dài hạn “Cơm có thịt” cho trẻ con vùng cao. Chúng còi cọc, thiếu chất, cơm không đủ no, làm việc nhiều, trường lớp thiếu thốn thiết bị, có khi ăn độn, đứt bữa, nói gì đến “Cơm có thịt”!. Cùng 2 nhà văn - biên kịch VFC Phạm Ngọc Tiến, Trần Thùy Linh là những người tâm huyết đã làm từ thiện lâu năm, ba người là thành phần nòng cốt làm nên phong trào gây sức hút trên trang cá nhân của mình, kêu gọi các chiến hữu gần xa góp sức (web:phamngoctien.com;blog: trandangtuan. worldpress.com).

Trần Đăng Tuấn Trong một chuyến đi làm từ thiện
Không chỉ bạn bè văn nghệ mà nhiều bạn đọc các trang của họ, đã gửi tiền ủng hộ về tài khoản của Trần Đăng Tuấn. ĐD Trần Quốc Trọng đã nhiều lần ủng hộ nhưng chưa lần nào đi cùng đoàn vì toàn bận làm phim. Mỗi tháng, nhóm Trần Đăng Tuấn lại thu gom quần áo cũ vẫn lành sạch, mua thêm quần áo, sắm bát đĩa nồi niêu mới, chất lên xe. Xe thuê hay xe của ai thì tất cả cùng chung tiền mua xăng, ăn uống bỏ tiền, không dùng một đồng nào trong quỹ từ thiện. Các cô giáo ở trong những căn hộ thiếu thốn cắm bản, cắm lớp, được trao tiền để mua thịt để nấu ăn cho lũ trẻ. Các nhà báo, nhà văn đem túi ngủ, ngủ dưới sàn những căn phòng tập thể giáo viên, sang hơn thì thuê nhà trọ nếu gần thị trấn, ở ghép để tiết kiệm tối đa chi phí. Trưởng đoàn Trần Đăng Tuấn luôn sẵn sàng lên đường khi gom được tiền, đồ đạc. Họ đã lên Hà Giang, Lào Cai, đến Lai Châu, Yên Bái. Theo nhà văn Trần Thùy Linh (phó giám đốc VFC), tổng số tiền bạn đọc đóng góp cho quỹ “Cơm có thịt” đã lên hơn 4 tỷ đồng. 

Trần Đăng Tuấn quả là một “người lạ”. Trong cuộc sống thực dụng, tham vọng bát nháo và nhiều giá trị đảo lộn, tha hoá, ông bỏ địa vị công danh, dồn thời gian, tâm sức cho trẻ em từ mầm non cho đến hết cấp học ở miền núi phía Bắc, là một sự lạ đáng quý. Làm từ thiện thành một niềm vui, động lực của cuộc sống hiện nay của ông.

Tags:

XEM XONG ĐỪNG CHỬI THỀ

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
4 nhận xét

Kính Chiếu Yêu
Bạn có biết bảng so sánh giá sữa giữa giá nhập với giá bán dưới đây là từ đâu không? Từ kết quả kiểm tra của Bộ Công thương, được VTV1 đưa tin vào ngày 16/4/2014 (được chụp lại). Tưởng rằng, như tuyên bố của phát thanh viên, ngày sau sẽ công bố kết quả thanh tra, nhưng không!

Định bụng chờ đợi kết quả thanh tra rồi có ý kiến, thôi thì cứ đưa lên đây để mọi người biết con cháu chúng ta đang bị họ bóp cổ thế nào. Chỉ có điều xin các vị xem xong đừng chửi thề.


Câu chuyện giá sữa không phải bây giờ mới bị dư luận lên án dữ dội. Cách đây cả năm nó đã được khai quật và bốc mùi quá rồi. Dư luận bức xúc, liền sau đó bộ 3 Công thương, Tài chính, Y tế vào cuộc. Trước tiên là cuộc khẩu chiến đá đi đá lại khái niệm nó là "Sữa" hay "Thực phẩm". Nếu là sữa thì trách nhiệm xem xét là của Bộ Y tế, và phải chịu sự chi phối của luật giá. Còn nếu là thực phẩm thì là trách nhiệm của Bộ Công thương và nó chi phối bởi quy luật thị trường. Người Việt sành điệu, sính ngoại thì phải chịu. Chuyện giá cả cao ngất ngưỡng so với giá nhập khẩu là trách nhiệm của Bộ Tài chính. Sau một hồi tranh cãi sự việc cũng chìm xuồng.

Sau gần một năm, dư luận lắng xuống, các cơ quan chức năng quản lý cũng không có động tĩnh gì, giá sữa lại tăng.

Từ đầu năm 2014 đến nay, giá nhiều loại sữa bột, sữa nước trên thị trường trong nước tiếp tục thiết lập mặt bằng mới, với mức điều chỉnh tăng trung bình 6 - 10% so với trước. Tình trạng này không chỉ xảy ra với các nhãn hiệu sữa nhập khẩu quen thuộc như Similac, Enfa, Pedia Sure, Nan… như nhiều lần tăng trước đó, mà trong danh sách tăng giá đợt này, cũng có cả các sản phẩm sữa của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk).

Thống kê của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho thấy, từ tháng 12/2013 đến hết tháng 1/2014, đã có 2/6 công ty sữa thuộc diện phải đăng ký giá gửi hồ sơ kê khai điều chỉnh tăng giá về Bộ Tài chính, với mức tăng 5-10%. Riêng Công ty TNHH Mead Johnson Nutrition Việt Nam có Văn bản số 2013002/FIN ngày 5/12/2013 kê khai giá điều chỉnh mức giá bán của 16/28 dòng sản phẩm, với các mức tăng phổ biến 5-7%.

Giá nguyên liệu tăng là "giai điệu" quen thuộc mà các hãng sữa lặp đi lặp lại cho mỗi lần tăng giá. Nhưng trên thực tế, ngay cả khi giá sữa nguyên liệu thế giới giảm thì giá sữa bán lẻ trong nước vẫn tăng như thường. Chẳng hạn, nửa đầu năm 2013, sữa nguyên liệu thế giới đồng loạt giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2012, nhưng không có doanh nghiệp sữa nào giảm giá ở thị trường Việt Nam.

Thậm chí, trong 6 tháng đầu năm 2013, có 5 doanh nghiệp sữa gửi thông báo tăng giá từ 2% đến 16%. Cụ thể, trong tháng 1/2013, Công ty TNHH Mead Johnson Nutrition Việt Nam tăng giá 3 mặt hàng từ 15% đến 16%, Công ty TNHH Phân phối Tiên Tiến (phân phối sản phẩm của Mead Johnson Nutrition Việt Nam) tăng giá 3 mặt hàng 9%-10%. Tháng 2/2013, Công ty TNHH Dinh Dưỡng 3A Việt Nam - tăng giá 31 mặt hàng từ 2% đến 9,5% và Công ty TNHH Friesland Campina tăng giá 9% một số mặt hàng. Tháng 5/2013, Công ty TNHH Nestlé Việt Nam tăng giá 3 mặt hàng với mức tăng 8%. Sự tăng giá vô tội vạ của các hãng sữa tại Việt Nam đã khiến mặt bằng giá của sản phẩm này từ năm 2011 đến 2013 đã tăng đến 300%.

Theo các chuyên gia, Thông tư 30/2013/TT- BYT chỉ yêu cầu các DN kê khai giá, nhưng lại chưa thể kiểm soát được triệt để giá sữa nhập khẩu và giá sữa thành phẩm sau sản xuất. Luật Giá lại cho phép các DN sữa được tăng giá từ 15 - 20% mỗi lần tăng giá cách nhau tối thiểu 15 ngày, vì vậy, DN có thể tăng giá sữa 2 lần/tháng mà vẫn không phạm luật. Đây là nguyên nhân sâu xa của việc các DN sữa lợi dụng những lỗ hổng trong chính sách quản lý để tăng giá vô tội vạ.

Cũng theo ý kiến của một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về quản lý thị trường thì: Giá sữa tại Việt Nam cao nhất thế giới bởi Nhà Nước Việt Nam không ban hành luật về nhu yếu phẩm. 

Theo tinh thần của luật này, các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của người dân toàn quốc hoặc ở một cộng đồng dân cư thì bị chi phối bởi luật nhu yếu phẩm. 

Các mặt hàng nhu yếu phẩm gồm có : gạo, bột mì, sữa, dầu ăn, chất đốt, xăng dầu, nước sinh hoạt, tàu hỏa tuyến độc quyền, xe buýt... 

Theo luật này, các công ty kinh doanh mặt hàng nhu yếu phẩm được tự do kinh doanh theo kế hoạch của công ty mình, nhưng kết toán cuối năm thì lãi ròng (là lãi sau khi trừ các khoản chi phí) không được phép vượt 2 lần lãi suất cho vay của ngân hàng, tính trên đồng vốn đã đầu tư. Phần lãi vượt định mức sẽ bị sung vào ngân sách quốc gia hoặc ngân sách địa phương, tùy phạm vi hoạt động của công ty. 

Do bị hạn chế về tỷ lệ lãi nên các công ty kinh doanh nhu yếu phẩm không dại gì làm giá bán quá cao để bị đối thủ chiếm thị phần mà tiền cũng không về hết túi mình.

Nói thì nhiều lý sự nhưng câu hỏi bình dân nhất của chúng tôi là: “Tại sao chỉ căn cứ vào báo giá nhập khẩu của các hãng sữa để tăng giá bán lẻ, trong khi chúng ta có thông tin từ hải quan, từ thương vụ? Cơ quan chức năng đã căn cứ vào những yếu tố nào để làm rõ giá bán các sản phẩm sữa?…Liệu có sự khuất tất phía sau câu chuyện giá sữa khi các nhà nhập khẩu bắt tay nhau, các nhà quản lý bị "đâm toạc tờ giấy".

Tôi ủng hộ việc Quốc Hội phải có ngay Luật nhu yếu phẩm để bảo vệ dân chúng ở một nước nghèo như Việt Nam.

Tags:

ĐỪNG BIẾN BỘ HỌC THÀNH NHÀ THẦU

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014 2 nhận xét

Bộ Giáo dục đừng biến thành nhà thầu

Bộ GD-ĐT đường đường là chủ một tài khoản – tương đương với 20% tổng ngân quỹ - lẽ ra phải đứng ra tổ chức “thầu” (có quyền “hạch sách” để chọn nhà thầu và nghiệm thu kết quả) thì nay lại tự đứng ra “bảo vệ đề án” (!) - nghĩa là, tự biến mình thành nhà thầu, tự bảo vệ mình trước Quốc hội, Chính phủ và trước dư luận… để cố giành được số tiền 34 ngàn tỷ… trong chính cái tài khoản của mình (!).
Có trái khoáy không?
Thế nào là quản lý nhà nước?


Đừng đóng vai xin tiền

Bộ GD-ĐT đã trình lên Thường vụ Quốc hội một “đề án xin tiền”: trên 34.000 tỷ đồng để “đổi mới chương trình và sách giáo khoa”. Số tiền quá lớn, bị nhiều ý kiến phản đối… một vị có trách nhiệm giãi bày rằng… đây mới chỉ là việc “bảo vệ thử một luận án” - ý nói sẵn sàng nghe phản biện và sẽ giải trình, bổ khuyết.

Tất nhiên, không ai “thử” bảo vệ luận án để… thua, mà là để thắng khi bảo vệ “thật”.

Riêng tôi cho rằng, Bộ GD-ĐT cần thôi hẳn chuyện tự “bảo vệ luận án”, mà phải là người chấm và hô hào dư luận cùng chấm cái “luận án” 34 ngàn tỷ này.

Chính vì quyết giữ vai trò “bảo vệ luận án” cho nên (ngay tức khắc), một vị lãnh đạo bộ này đã họp báo giải thích sự hợp lý của các khoản chi phí – và không quên nhấn mạnh đã tiết kiệm tối đa (ví dụ, khoản viết sách giáo khoa chỉ tốn trên 100 tỷ đồng mà thôi).

Khốn nỗi, nếu được thuê, được thầu, thì “người ngoài đề án” chỉ cần xin 34 tỷ (tức 1/3) cũng quá đủ. Người ta có cảm giác Bộ GD - ĐT từ vài chục năm nay vẫn muốn “ôm” lấy việc tự viết sách. Không lạ, nếu có người cho rằng "sẽ thiếu minh bạch nếu Bộ GD-ĐT giữ quyền làm sách".

Cứ cho là khoản tiền khổng lồ 34 ngàn tỷ được duyệt, thì nội dung đề án, trong đó phần Mục Tiêu chưa thật trúng, cũng khiến có người nhấn mạnh rằng với giáo dục, không phải có tiền là có kết quả.

Đúng vậy đấy. Quá khứ vẫn hiện ra nhãn tiền kia.

Bộ GD-ĐT hãy giữ vị trí của người có tiền và biết chi tiền
Giáo dục nước ta được chi hàng năm tới 20% tổng ngân sách. Đây là tỷ lệ rất lớn, so với bất cứ nước nào. Nhưng Việt Nam vẫn là nước nghèo, do vậy đưa đến 2 hệ quả phải xử lý:

- Bộ GD-ĐT cần trở thành chủ tài khoản, trong tay thật sự có tiền

Con số 20% ngân sách (dự kiến mỗi năm) rất có thể bị cắt giảm (như đã từng xảy ra). Muốn biến dự kiến thành hiện thực, muốn thật sự làm chủ số tiền này, Bộ GD-ĐT phải giải trình với Chính phủ, Quốc hội, sao cho thuyết phục để mỗi năm được giải ngân trọn số tiền dự kiến – nghĩa là được cấp đủ. Chớ có xông vào việc tự lập dự án (tự xin tiền, tự chi tiêu), mà hãy trở thành người gọi thầu và chọn thầu. Chọn được nhà thầu tốt nhất sẽ là cách thuyết phục Nhà Nước cấp đủ tỷ lệ 20% dự kiến – với sự hậu thuẫn của dư luận.

Muốn vậy, dứt khoát phải chứng minh được sự tiết kiệm, thể hiện bằng những hiệu quả (đong đếm được) trong ngắn hạn, tức là trong mỗi bước của lộ trình. Chớ hứa hẹn những thu hoạch “khổng lồ” nhưng bắt mọi người phải chờ sau 5 năm, 10 năm (và lâu hơn nữa) – như đề án 34 ngàn tỷ.

Chính cái đề án tự biên, tự tạo này đã biến Bộ GD-ĐT lẽ ra phải là người có quyền quy trách nhiệm các nhà thầu lại trở thành người sẽ bị cấp trên và dư luận truy trách nhiệm.
Bộ GD-ĐT phải tự chứng minh là “người nghèo biết cách chi tiền”

Tỷ lệ 20% tuy lớn, nhưng Việt Nam vẫn là nước nghèo, số học sinh chiếm tới 1/5 dân số (đưa đến khoản lương không nhỏ cho hàng triệu thầy cô); do vậy số tiền mặt được thực chi cho mỗi đầu học sinh là rất thấp.

Bởi vậy, nhất thiết trong hành xử, Bộ GD-ĐT cần chi tiền theo cách của người nghèo. Mà phải là người nghèo có chí làm giàu.

Ngôi nhà mang tên Giáo Dục đã rệu rã, cần sửa, cần cơi nới, hay cần làm mới?. Người giàu thì “phá đi, làm lại”; nhưng người nghèo thì “dỡ ra, làm lại”. Hàng mấy trăm triệu cuốn sách giáo khoa (đã in) sao nỡ vứt bỏ cái “toạch” như dự định?

Trong nhiều dự án do “người ngoài” đề nghị (họ muốn kiếm tiền) – sẽ không thiếu những dự án 34 ngàn tỷ - chủ nhà cần chọn đề án nào thực tế nhất, lại phù hợp số tiền trong tay; đồng thời phù hợp với sự phát triển tiếp theo của ngôi nhà.

Thế thì… cái đề án hoành tráng cỡ 34 ngàn tỷ - lại không phải do “người ngoài” đề nghị - rõ ràng là không phù hợp với cách chi tiền của người nghèo. Liệu tác giả đề án có khi nào tự ý thức được mình nghèo? Một ví dụ khác. Khi thấy rằng thu nhập đầu người ở Việt Nam còn lâu mới đạt 5000 USD, nhiều vị đã đề nghị chương trình phổ thông chỉ cần 10 hoặc 11 năm – ít nhất trong thế hệ hiện nay. Nhưng Bộ GD-ĐT vẫn khư khư giữ 12 năm, bất cần lời giải thích nào, cứ như người nghèo mà quen hành xử kiểu đại gia (!).

Tags:

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ, SỰ BẤT QUÁ TAM

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
17 nhận xét

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ, SỰ BẤT QUÁ TAM

Kính Chiếu Yêu

Sự bất quá tam là thành ngữ chỉ việc gì đã làm lại đến ba lần mà không xong thì nên thôi. Hoặc đã làm một lần mà chưa được thì nên thử lại hai, ba lần, dân gian vẫn nói là "quá tam ba bận". Lời khuyên trên dựa vào tích chuyện trong Tam Quốc diễn nghĩa nói chuyện Lưu Bị ba lần đến lều cỏ cầu Khổng Minh ra giúp việc cho mình.

Chẳng phải nói tích cũ để mua vui mà tôi muốn nói đến bà Bộ trưởng Bộ Y đã ba lần thất sủng trước niềm tin của dân chúng. 

Lần thứ nhất, bà đã bỏ qua không đến bệnh viện Hướng Hóa cách chỗ bà đứng làm lễ động thổ một công trình nhỏ vài chục cây số để chia sẻ nỗi đau với ba bà mẹ mới mất con do tiêm phòng, đồng thời khẩn trương tìm hiểu nguyên nhân của nó mà xử lý tình huống. Vì rằng, việc tiêm phòng đang diễn ra với hàng triệu đứa trẻ khắp cả nước.

Lần thức hai, khi vụ Cát Tường xảy ra, dân chúng phẩn nộ vì y đức xuống đáy nên đã ầm ầm đòi bà từ chức. Mặc dù nước mắt ngắn dài trước mặt báo giới với những lời hoa mỹ về y đức, về tinh thần trách nhiệm, nhưng cũng phải đến hơn chục ngày sau, bà mới “vi hành” đến nhà nạn nhân Huyền để động viên, chia sẻ. Mà xem ra chuyến đi cũng chỉ để đối phó với búa rìu dư luận mà thôi.

Và lần này là lần thứ ba, dịch sởi hoành hành, đã có hơn một trăm đứa trẻ thiệt mạng, trong đó ngót một nửa là trẻ em ở Hà Nội và chết ngay một bệnh viện trung tâm cách nơi bà làm việc có non 2 km, Viện nhi Trung Ương. Tệ hơn, trong lúc Bộ Y nói chỉ mới hơn hai mươi đứa chết thì thực tế đã có 111 đứa qua đời sau 3 tháng phát sinh dịch và gần 7 ngàn đứa khác mắc bệnh! Bà Bộ trưởng vẫn ung dung chỉ đạo dập dịch từ phòng lạnh. Mãi đến khi Phó thủ tướng thị sát vùng tâm dịch sởi, phát hiện ra tình hình tồi tệ khiến hàng triệu người lặng đi thì một ngày sau bà Tiến mới tới nơi. Tôi cũng không thể tự giải thích được vì sao người ta dấu cả sự thật về số lượng trẻ chết và không công bố dịch?

Bộ trưởng Y tế vừa mấy hôm trước còn hùng hồn hứa với các đoàn ĐB Quốc hội sẽ nỗ lực giảm thiểu trì trệ, tiêu cực ngành y, thì hôm nay lại đang chứng minh rằng: Chính cái ghế của bà mới là vị trí cần “cải tổ trì trệ” trước tiên. Cả một lực lượng y tế hùng hậu giúp việc cho lãnh đạo Bộ Y tế, dường như đã “thua trắng” vài dòng chữ trên mạng xã hội facebook của một bác sĩ mà Phó thủ tướng đọc được. 

Dưới góc độ y đức, chắc không mấy ai nghi ngờ mong muốn cứu người của bà Bộ trưởng. Nhưng dưới góc độ quản lý nhà nước, người ta có quyền nghi ngờ năng lực điều hành, sự quyết liệt, quyết đoán nhanh của một tư lệnh ngành. Điều đáng lo ngại là, ở cương vị tư lệnh ngành trị bệnh cứu người, sự thiếu quyết đoán, quyết liệt sẽ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc về sinh mạng con người.

Còn nhớ, khi vi rút H5N1 mới xuất hiện ở Mỹ rồi Trung Quốc, vài ca tử vong mà khiến cả thế giới vào cuộc khẩn trương, quyết liệt. Còn bây giờ, vị Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam Takeshi Kasai đã có lời nhắc: “Theo tôi, điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là Bộ Y tế nên đặt tình trạng sởi hiện nay vào tình huống khẩn cấp và nghiêm trọng và họ cần phải nỗ lực hết sức để kiểm soát được tình trạng này.” Ông còn cho biết: “Theo Tổ chức Y tế Thế giới chỉ cần 3 ca bệnh thôi là chúng tôi đã có thể công bố được thành dịch”. Nhưng hệ thống y tế Việt Nam vẫn "chưa khẩn cấp", chưa cần công bố dịch.

Có nên chăng khi ký gửi sinh mạng cho một vị "tư lệnh" ngành Y như vậy?

Tags:

LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM (P1)

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
5 nhận xét

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

Mõ Làng: Huỳnh Thế Du là giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard đã có bài viết về "kinh tế thị trường định hướng XHCN" của Việt Nam. Xin được lược đăng từng phần.

Việt Nam chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) làm mô hình phát triển. Trong hơn hai thập kỷ kể từ khi quyết định đường hướng phát triển này, nhiều điểm tích cực của kinh tế thị trường đã được phát huy đem lại mức tăng trưởng kinh tế khá cao để đưa một phần rất lớn người dân Việt Nam thoát khỏi đói nghèo - nỗi ám ảnh gần như trong suốt chiều dài lịch sử Dân tộc Việt. Tuy nhiên, khi vẫn còn lúng túng trong việc luận giải “Định hướng XHCN là gì?" và mối quan hệ của nó với kinh tế thị trường như thế nào thì các nguyên tắc thị trường ngày càng chi phối sâu rộng các hoạt động kinh tế. Những mặt trái hay khuyết tật của thị trường không được xử lý bằng những cách thức đúng đắn, những trục trặc khi nhà nước can thiệp hay làm thay thị trường đang làm cho các vấn đề như: bất bình đẳng, chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm, tham nhũng, lãng phí băng hoại đạo đức và các mâu thuẫn xã hội ở Việt Nam đang trở nên gay gắt và nghiêm trọng hơn.

Trong bài viết “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ”, trên Tạp chí Cộng sản Online ngày 08/06/2013, Gs. Đỗ Hoài Nam (2013) đã nêu:

Đến nay vẫn còn không ít vấn đề vướng mắc chậm được luận giải, đang được coi là kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất... Một trong những vấn đề quan trọng là sự cần thiết phải cụ thể hóa những nội dung cơ bản phản ánh định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế thị trường nói riêng. Ở nước ta, điều này lần đầu tiên đã được chính thức luận giải khái quát trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và được nhắc lại ở Đại hội Đảng lần thứ X. Từ đó cho đến nay vẫn chưa có những bước tiến mới trong việc tiếp tục cụ thể hóa những nội dung phản ánh tính định hướng này.

Một luận giải rõ ràng về khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” dựa trên nền tảng khoa học trong xu thế thời đại ngày nay làm cơ sở để giải quyết những bức xúc trước mắt cũng như định ra đường hướng phát triển dài hạn cho Việt Nam là rất quan trọng. Nhằm góp phần làm sáng tỏ các lý luận liên quan đến vấn đề này, bài viết sẽ phân tích vấn đề của Việt Nam và thực tiễn phát triển trong xã hội loài người để đưa ra những luận giải cụ thể với những bằng chứng khoa học và tư duy biện chứng.

Vấn đề của Việt Nam

XHCN thuần túy theo cách diễn giải chính thống ở Việt Nam là xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về TLSX đi liền với cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Để tiến lên XHCN, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp bóc lột (địa chủ và tư sản) là một trong những trọng tâm trong giai đoạn đầu. Đây là cơ sở của cải cách đất đai ở đầu thập niên 1950, cải tạo công thương nghiệp và hợp tác hóa ở miền Bắc trong cuối thập niên 1950 và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam cuối thập nhiên 1970 (Nguyễn Khắc Viện 2007). Tuy nhiên, giống như các nước XHCN khác, việc áp dụng mô hình XHCN thuần túy ở Việt Nam đã thất bại dẫn đến khủng hoảng. CNXH chưa thể thành công do chưa có con người XHCN - con người vị tha và không vị kỷ. Lúc chiến tranh, đối diện với mất còn, nhiều người có thể phá nhà làm chiến lũy chống quân thù, nhưng lúc xây dựng CNXH thì ít ai muốn thiệt, cho dù chỉ nửa viên gạch. Nói cách khác, trong điều kiện bình thường hầu hết mọi người chỉ vì mình chứ không vì người khác như giả định của học thuyết Marx và các luận điểm của Lenin.

Việt Nam đã đổi mới và tránh được đổ vỡ trong một bối cảnh hết sức đặc biệt vào cuối thập niên 1980 (xem Đảng Cộng sản Việt Nam 2006a). Kể từ đó, cho dù chấp nhận các quy luật thị trường với nền tảng là tư hữu về TLSX, nhưng các nguyên lý của Marx và Lenin với cách luận giải thiên về vấn đề sở hữu và vai trò chủ đạo của nhà nước vẫn được xem là chủ thuyết phát triển chính ở Việt Nam. Đây là cơ sở để khái niệm “Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ”, ở Khóa VI; trở thành “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN”, ở Khóa VII; và thành “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001 (Xây dựng Đảng 2013). Khái niệm này đã được làm rõ thêm tại Đại hội X năm 2006 với luận giải quan trọng nhất là: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. ”

Do quan điểm phải gắn chặt với những lý luận nguyên bản của Marx và Lenin đưa ra cách đây hơn một thế kỷ, nên những luận giải về định hướng XHCN ở Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua chủ yếu xoay quanh việc khẳng định chế độ công hữu là nền tảng và vai trò chủ đạo của nhà nước trong các hoạt động kinh tế. Sở hữu hỗn hợp mà đặc biệt là tư hữu dường như chỉ được xem là giải pháp trước mắt, công hữu về TLSX vẫn đang là mục tiêu chính ngay thời điểm hiện nay (Vũ Văn Phúc 2013). Với cách luận giải này, định hướng XHCN đang đối lập như nước với lửa với kinh tế thị trường. Điều này làm cho đường hướng phát triển chính thống khác xa với thực tiễn hay sự vận động của xã hội. Nó không chỉ gây ra sự lúng túng trong việc thực thi các chính sách trong thực tế, lựa chọn các ưu tiên trước mắt mà còn để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sự phát triển dài hạn của Việt Nam. Như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (2013) đã nói: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”, nhưng những khái niệm như: sở hữu toàn dân, định hướng XHCN, vai trò xã hội và điều tiết vĩ mô của các DNNN ... đã và đang bị một số người hay nhóm lợi ích lợi dụng để trục lợi cá nhân gây phương hại đến lợi ích chung. Vô hình trung Định hướng XHCN theo cách hiểu đặt nặng vấn đề sở hữu và vai trò chủ đạo đang làm chệch hướng mục tiêu XHCN hiểu theo nghĩa vì một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực tiễn trong xã hội loài người

Nhìn vào sự phát triển của nhân loại cho đến ngày nay, kinh tế thị trường là một trong những chìa khóa quan trọng nhất cho các nước có được sự thịnh vượng, trong khi tất cả các nước theo mô hình XHCN thuần túy đều đã thất bại. Tuy nhiên, nếu đề cao quá mức vai trò của thị trường tự do thì sẽ gặp rắc rối. Những cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính nghiêm trọng xảy ra trong xã hội loài người đều do tính vị kỷ của con người được dung dưỡng quá mức.Việc quá đề cao giá trị của tiền bạc hay vật chất đã làm méo mó các giá trị dân chủ đúng nghĩa - một nền tảng cơ bản khác tạo ra sự tiến bộ của nhân loại (Yasheng Huang 2013). Nền chính trị tiền bạc ở Mỹ hiện nay là sản phẩm của sự thái quá này cho dù việc đề cao thị trường tự do đã giúp Hoa Kỳ trở thành một siêu cường trên thế giới. Sự chi phối quá mức của đồng tiền trên chính trường có lẽ là một trong những thách thức lớn nhất của Hoa Kỳ cho dù nhiều dự báo (như Daron Acemoglu và James Robinson chẳng hạn) cho rằng vị trí của Mỹ vẫn chưa thể bị thách thức trong thế kỷ 21 này.

Mô hình nhà nước phúc lợi (welfare state) hay thị trường xã hội với điển hình ở các nước bắc Âu là một tham khảo thú vị. Dường như CNXH vị tha và CNTB vị kỷ đã có thể cân bằng lành mạnh (Henrik Berggren và Lars Tragârdh 2011). Điều đáng lưu ý là các nước này đã không gắn đường hướng phát triển của họ với một học thuyết cố định nào cả mà họ luôn dựa vào kho tri thức và các tiến bộ của nhân loại trong mỗi thời kỳ để định hình đường lối phát triển trong từng thời kỳ. Công thức thành công của họ đơn giản chỉ là tôn trọng các quy luật thị trường, sự tự do cá nhân và nhà nước phải vì lợi ích thực sự của ngựời dân. Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự đã được tập trung vun đắp để trở thành ba trụ cột chính cho sự phát triển. Mối quan hệ giữa ba trụ cột này được giải quyết hài hòa để giảm thiểu sự giẫm chân và mẫu thuẫn lẫn nhau. Khu vực thị trường hay các doanh nghiệp có nhiệm vụ chính tạo ra của cải cho xã hội; Nhà nước đóng vai trò sửa chữa các khuyết tật của thị trường, tái phân phối một phần của cải để đảm bảo công bằng, cân bằng, hiệu quả và sự tiến triển cho toàn xã hội; Xã hội dân sự cởi mở tạo ra miền tin lẫn nhau để hình thành vốn xã hội giúp các hoạt động kinh tế trở nên hiệu quả hơn, vai trò phân phối nguồn lực của nhà nước hữu hiệu hơn trong một xã hội nhân văn mà quyền con người được tôn trọng.

Kinh tế thị trường, nhà nước, xã hội dân sự là ba thực thể tồn tại một cách khách quan trong bất kỳ nước nào. Nhìn vào mức độ phát triển của từng thực thể và sự tương tác giữa chúng có thể thấy được sự phát triển của một quốc gia. Sự cân bằng và hài hòa giữa ba thực thể này là vô cùng quan trọng. Bất kỳ một sự thiên lệch nào cũng có khả năng gây ra trục trặc. Khi nhà nước đòi làm tất cả sẽ dẫn đến kết cục như các nước XHCN thuần túy. Kinh tế sụp đổ và các giá trị xã hội bị tàn phá do giả dối, đạo đức giả và bệnh thành tích tràn lan. Nếu vai trò của thị trường được đẩy lên quá cao sẽ dẫn đến một nền chính trị tiền bạc như Mỹ hiện nay. May mà xã hội dân sự ở Mỹ đã bám rễ rất chắc và rất sâu rộng nên nó đã cáng đáng tốt rất nhiều vai trò trong xã hội khi mà các chính trị gia đang tranh cãi với nhau để tranh giành quyền lực và sự ảnh hưởng của mình. Một môi trường mà ở đó xã hội dân sự được đặt cao hơn hai trụ cột còn lại có lẽ là không tưởng vì vật chất có trước ý thức có sau và vật chất quyết định ý thức. Xã hội dân sự gắn liền với ý thức và sự tự nguyện của các công dân nên khó có thể vượt lên so với hai thực thể còn lại.

Điều cần lưu ý là trong ba trụ cột nêu trên, chỉ có nhà nước được tổ chức chính thức, trong khi kinh tế thị trường và xã hội dân sự là những thực thể phi tập trung và phân tán khắp nơi. Nhà nước làm sứ mệnh sửa chữa các thất bại của thị trường do tính vị kỷ của con người gây ra. Tuy nhiên, bản chất hành vi của những người làm ở khu vực công hay khu vực tư đều như nhau. Trong lịch sử loài người, chưa có bất kỳ một ví dụ thực tiễn nào cho thấy có một nhà nước mà ở đó tất cả những người lãnh đạo và các công chức đều mẫn cán, một lòng một dạ vì lợi ích của người dân chứ không phải vì lợi ích, vị trí hay quyền lực của mình. Ngay cả khi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn cản trở mà chủ yếu do tay chân, người thân của thiên đình, thần tiên hay nhà phật gây ra, bước chân đến cửa phật rồi mà thầy trò Đường Tăng vẫn phải lo lót để có được kinh kệ mang về. Ở xã hội trần tục đương nhiên là nghiêm trọng hơn nhiều.

Do vậy, cấu trúc nhà nước cần phải được thiết kế để tránh tập trung quyền lực quá nhiều vào một hoặc một số ít cá nhân hay tổ chức. Hơn thế, mỗi vị trí phải luôn chịu sự giám sát hay điều tiết bởi những đối tượng khác. Chỉ có áp lực mất mát thực sự nếu không làm tốt mới có thể làm cho những người làm trong khu vực công làm tốt nhằm tạo ra một nhà nước hữu hiệu. Hơn thế, vai trò của xã hội dân sự trong việc ngăn chặn suy đồi đạo đức, lạm dụng quyền lực cũng như sự cấu kết của các đối tượng trong hai trụ cột còn lại để tham nhũng và lũng đoạn là vô cùng quan trọng. Ở những nơi mà xã hội dân sự không được quan tâm thì xảy ra tình trạng cấu kết giữa doanh nghiệp và nhà nước hay chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism) tước đoạt phần lớn nguồn lực của xã hội cho một bộ phận rất nhỏ những ngựời có quyền và có tiền, tạo ra bất công và khó phát triển.

Đối với vai trò của nhà nước, trừ một số nước thuộc “Một tỷ ngựời dưới đáy” (Paul Collier 2007) mà ở đó nhà nước có cũng như không, ở tất cả các nước trên thế giới, nhà nước đại diện cũng như thực thi vì quyền lợi của toàn dân luôn được thừa nhận là có thể đứng trên tất cả các chủ thể còn lại. Trong những trường hợp cần thiết (vì an ninh quốc gia chẳng hạn), nhà nước có thể trưng mua, thậm chí là tịch thu tài sản, hay tính mạng của người dân (gọi nhập ngũ và đưa ra chiến trường khốc liệt với khả năng tử vong rất cao chẳng hạn). Tuy nhiên, khi pháp quyền được lấy làm nền tảng, thì nhà nước phải là chủ thể đầu tiên tôn trọng pháp luật chứ không thể muốn gì làm nấy theo kiểu độc tài chuyên chế.

Nhà nước cũng là đối tượng sử dụng các nguồn lực xã hội nhiều nhất. Ngân sách nhà nước ít thì cũng 15-20% và cao thì trên 50% GDP. Nhà nước cũng tham gia vào các hoạt động kinh tế, nhất là những hoạt động mà tư nhân không muốn làm hay làm không hiệu quả. Tuy nhiên, trong tất cả các quốc gia đã đi đến thịnh vượng, không nước nào xác định vai trò chủ đạo của nhà nước hay kinh tế nhà nước. Việc đưa ra khái niệm kinh tế nhà nước và đặt ra vai trò chủ đạo đồng nghĩa với việc đặt nhà nước chung với vai trò của thị trường trong điều kiện nhà nước vừa tham gia đá bóng lại có quyền thổi còi. Hậu quả của việc này như thế nào đã được thực tế chứng minh.

Luận giải kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Muốn phát triển, mỗi quốc gia đều phải dựa vào kho tri thức hay những tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, không thể áp dụng một cách máy móc hay chắp vá mà cần có tiến trình tìm hiểu cho phù hợp với điều kiện thực tế ở mỗi nơi. Không đâu xa, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore trở nên thịnh vượng chỉ đơn giản bằng cách “bắt chước” các tri thức và giá trị phương Tây sau đó điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể. Họ đã chấp nhận thử và sai trên cơ sở tư duy phù hợp với thực tế khách quan để chọn được đường đi đúng đắn. Đối với Việt Nam, người viết bài viết này hoàn toàn đồng ý với tác giả Trần Việt Phương (2008) rằng: “Giải pháp cho Việt Nam phải là một giải pháp Việt Nam, con đường của Việt Nam phải là con đường Việt Nam, phù hợp với xu thế chung của loài người và chiều hướng tiến bộ của thời đại.” và quan điểm của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh (2013):

Chúng ta tuyên bố xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Không sai. Nhưng bây giờ phải rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng XHCN là thế nào? Đâu phải nó là một mô hình kinh tế thị trường riêng biệt so với thế giới. Bởi "kinh tế thị trường" là cái tinh hoa của nhân loại rồi, còn "định hướng XHCN" là nói về vai trò của Nhà nước.

Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Việt Nam có lẽ không khác nhiều với mô hình thị trường xã hội. Nếu chọn được đường đi và chính sách đúng đắn thì có lẽ phải rất lâu nữa Việt Nam mới có thể đạt được mức phát triển như các nước bắc Âu hiện nay. Tuy nhiên, nếu muốn đạt được thì không cách nào khác, Việt Nam cần phải xây dựng ngay các yếu tố nền tảng từ bây giờ. Các chức năng và vai trò của ba trụ cột cần được phân định rạch ròi để chúng phát triển lành mạnh và quan hệ hài hòa lẫn nhau. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là một đòi hỏi đối với Việt Nam hiện nay (Đỗ Hoài Nam 2013). Trong bối cảnh này, Định hướng XHCN nên được hiểu là lấy công bằng làm đầu hay vì mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh trong mục tiêu tổng quát nêu trên. Kinh tế thị trường sẽ làm nhiệm vụ tạo ra của cải cho toàn xã hội. Lúc này chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu và mối quan hệ của ba trụ cột cần được xác định rõ ràng.

Vai trò của nhà nước, suy cho cùng, cũng chỉ để đạt được mục tiêu đề ra bằng cách làm sao để cả thị trường và xã hội dân sự làm đúng chức năng của chúng. Muốn như vậy, nhà nước chỉ nên làm đúng chức năng của mình chứ không nên làm thay hay giẫm chân hai trụ cột còn lại và càng không nên kìm hãm sự phát triển của chúng một cách duy ý chí. Do vậy, vai trò của nhà nước, như hầu hết các nước đã thành công trên thế giới, đơn giản chỉ là tập trung sửa chữa các khuyết tật thị trường và cải thiện bình đẳng thay vì nhấn mạnh yếu tố sở hữu và xác định vai trò chủ đạo. Song song với việc hoàn thiện các thể chế nòng cốt của một nhà nước pháp quyền, nhà nước nên giảm thiểu tối đa việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh, nhất là những hoạt động mà thị trường có thể làm tốt chức năng của nó. Hơn thế, việc tạo ra áp lực cạnh tranh, áp lực phải chịu trách nhiệm cụ thể đối với các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước là tối quan trọng để khu vực công có thể hiệu quả và hữu hiệu hơn. Chỉ có một tiến trình lựa chọn nhân sự dân chủ đúng nghĩa thông qua cạnh tranh để người dân phát huy quyền làm chủ thực sự thì mới có thể có được điều này.

Những nhà công nghiệp sở hữu những doanh nghiệp làm ra giá trị gia tăng thực sự cho xã hội như: Apple, Google ở Mỹ, Samsung hay LG ở Hàn Quốc, Toyota hay Honda ở Nhật, Lego hay Maersk ở Đan Mạch, Elextrolux hay Ikea ở Thụy Điển mới thực sự là nền tảng của một nền kinh tế vững mạnh. Đây là điều mà Việt Nam đang thiếu. Những doanh nghiệp tạo ra giá trị đúng nghĩa chỉ có thể được tạo ra khi có một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Hoàn thiện các thể chế để tạo ra sân chơi bình đẳng, khuyến khích sáng tạo, và giảm thiểu đầu cơ lũng đoạn là việc cần làm ngay. Ở trụ cột này, việc cải tổ các DNNN theo hướng mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung vào một hay một vài nhiệm vụ cụ thể trong một thời hạn nhất định là hết sức cấp bách. Điều này sẽ tránh sự lãng phí nguồn lực và lợi dụng vai trò chủ đạo của loại hình doanh nghiệp này của một số người để họ trục lợi. Đối với khu vực doanh nghiệp dân doanh, việc trân trọng những người có khả năng làm giàu và khuyến khích người giàu dần xóa bỏ tâm lý kỳ thị, ghen gét người giàu, ngựời giỏi là vô cùng quan trọng. Không một xã nào có thể trở nên thịnh vượng khi người giàu hay người giỏi không được tôn trọng cả.

Một xã hội dân sự đúng nghĩa cần được quan tâm để nó có thể ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức, mất lòng tin trong xã hội và tham nhũng tràn lan hiện nay. Chỉ có xã hội dân sự cởi mở mới có thể tạo được niềm tin giữa con người với con người, dần hình thành vốn xã hội có lợi cho sự phát triển. Trong một xã hội, các quan hệ cơ bản chỉ do vật chất chi phối sẽ rất nguy hiểm vì ở đó chỉ có phần “con” thấp hèn được dung dưỡng trong khi phần “người” cao quý không được đề cao. Sẽ rất là đáng sợ khi trong một xã hội mà phần con lấn át phần người. Nếu không có những quyết sách hợp lý ngay từ bây giờ, tương lai của Việt Nam sẽ rất u ám.

Tóm lại, nếu vẫn lấy các học thuyết của Marx làm chủ thuyết phát triển chính, Việt Nam cần loại bỏ những lý luận không còn phù hợp và tạm gác sang một bên những điểm chưa thể áp dụng trong thời đại ngày nay đồng thời bổ sung những lý luận mới và học hỏi vận dụng những tiến bộ của xã hội loài người nhằm lựa chọn một con đường hay chủ thuyết phát triển hợp lý để sớm đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đây mới chính là mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của Việt Nam chứ không phải việc bảo vệ hay phải gắn liền với một chủ thuyết nào đó.

Tags:
 
Mõ Làng © 2013 | Designed by tai game mien phi