CÂU CHUYỆN ĐẰNG SAU HAI PHIÊN TÒA BỊ HOÃN

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014 7 nhận xét

Chiềng Chạ
Trên thực tế những lời đồn thổi sẽ vô hại nếu nó chỉ diễn ra trong một không gian hẹp và khi đó nó sẽ là câu chuyện chung của một số người, không phải là câu chuyện của cả một cộng đồng. Nhưng, hiện nay điều đó đang đi theo chiều hướng ngược lại. Chỉ với một hiện tượng, sự việc rất nhỏ, thậm chí là không có gì đáng nói, với sự hỗ trợ đắc lực và hiệu quả từ mạng Internet và những tiện ích liên quan, được chế biến qua lăng kính của người đưa tin khiến sự lan truyền ấy đi rất xa, ngoài tầm kiểm soát. 
Thời gian gần đây, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã đưa ra xét xử 02 vụ án được công luận đặc biệt chú ý là vụ bầu Kiên, TMV Cát Tường. Điều đặc biệt là hai phiên tòa này đều bị hoãn giữa chừng để các cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát tiếp tục công việc của mình theo quy định của Luật Tố tụng hình sự. Sự việc chỉ diễn ra có vậy và có chăng đó chỉ là công việc của những cơ quan chức năng liên quan, những người quan tâm chỉ có chăng chỉ làm duy nhất một việc là chờ đợi những phán quyết cuối cùng của Tòa án nhân dân TP Hà Nội trong thời gian tới. Tuy nhiên, sức nóng của hai sự kiện này không nằm ở hai con người là Bác sỹ Tường hay ông Nguyễn Đức Kiên mà là những câu chuyện bên lề vô thưởng vô phạt. 

Người ta nói nhiều đến vụ thẩm mỹ viện Cát Tường khi cho rằng, với một vụ việc hình sự bình thường như vậy mà giải quyết chậm chạp, để kéo dài làm ảnh hưởng không nhỏ đến gia đình bị hại và những người xung quanh; Thậm chí còn cho rằng, cơ quan chức năng đang bỏ lọt tội đối với bị cáo Tường trong vụ việc vừa qua. Mặc dù những phản hồi này là hợp lý và đây cũng là nguyên nhân chính khiến phiên tòa bị hoãn lại một thời gian thích hợp. Song, chính cái quyết định hoãn ấy lại dấy lên nhiều nghi ngại về năng lực tố tụng của những cơ quan chức năng. 

Đối với vụ án Bầu Kiên lại có diễn biến hoàn toàn khác. Việc hoãn giữa chừng việc xét xử đại án kinh tế này liên quan đến một bị cáo khác là ông Trần Xuân Giá. Theo nhận định thì có thể "khi nhận được giấy triệu tập, nguyên Chủ tịch ACB Trần Xuân Giá bệnh càng thêm nặng, phải điều trị nên vắng mặt tại tòa". Và rõ ràng, khi vắng mặt một bị cáo thì tính đối chất và công bằng tại phiên tòa sẽ bị giảm đi và cơ hồ khó đi đến sự thật. Đây là nguyên nhân chính khiến Tòa án nhân dân TP Hà Nội ra quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, cũng giống như vụ án Thẩm Mỹ viện Cát Tường, việc hoãn xử vụ án Nguyễn Đức Kiên lại được không ít người xem đó là một động thái gỡ rối từ phía cơ quan thực thi pháp luật bởi, theo họ đưa những bị cáo của những hành vi chưa được luật hóa sẽ ít nhiều ảnh hưởng tính hiệu lực và khả năng điều hành của Nhà nước trong tương lai. 

Hai câu chuyện về hai vụ án không biết đi về đâu trước những cách chế biến câu chuyện đến một người ưa đùa và có trí tượng tưởng phong phú nhất cũng không dám nghĩ đến. Họ vô tình đang quên đi rằng, pháp luật luôn có những yếu tố đặc thù và việc thực hiện pháp luật không thể phụ thuộc vào ý kiến chủ quan và trên hết nó được thực hiện theo trình tự và thủ tục nhất định. Tòa án là cơ quan phán quyết cuối cùng để quyết định một con người có tội hay không và làm tiếp những hình thức chịu tội mà họ đáng được hưởng. Tính hệ lụy và thiết thân từ những phán quyết của Tòa án là rất cao, do vậy việc Tòa án cẩn trọng và làm đúng những nội dung theo quy định của Luật là một trong những nhân tố hạn chế oan sai và những trường hợp bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, Tòa án có quyền hoãn xét xử vì những yếu tố mà Tòa án cho rằng, nếu không được làm rõ thì sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan của bản án.  

Trên thực tế, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã thực hiện trên những cơ sở nhất định để đưa ra những quyết định hoãn xét xử như vừa qua. Đối với vụ án Thẩm mỹ viện Cát Tường, như Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị khẳng định tại buổi tiếp cử tri tại Quận Hai Bà Trưng: "Việc dừng xét xử hai vụ án trên là hoàn toàn hợp lý. Bởi theo ông hồ sơ chưa được xem kỹ, cáo trạng còn chung chung, đặc biệt là quy trình khám chữa bệnh. Việc xét xử vụ án ở TMV Cát Tường phải toát lên được mấu chốt vấn đề là mặc dù cấm không được làm, nhưng anh vẫn cứ làm, rồi gây chết người. Đã vậy khi gây ra chết người lại còn đi ném xác phi tang. Như vậy “việc dừng xét xử là hết sức cần thiết”.

Đối với vụ án Bầu Kiên thì hoàn toàn dễ hiểu. Việc vắng mắt vì lí do sức khỏe của ông Giá đã là nguyên nhân không có gì dễ hiểu hơn. Cơ quan Tòa án sẽ rất khó tiến hành đối chất và làm rõ những điểm trong lời khai của hai bị can về cùng một tội danh. Nếu Tòa án chọn giải pháp xử vắng mặt ông Giá thì không biết điều gì sẽ xảy ra khi ông Giá trở lại phiên tòa. Liệu ông Giá có nói điều ngược lại ông Kiên không thì còn lâu chúng ta mới biết được và lúc ấy ai sẽ là người đứng ra chữa cháy cho những tình huống bất đắc như thế. 

Thế mới biết, mỗi ngành nghề đều có những nguyên tắc nhất định trong việc vận hành. Theo đó, Cơ quan Tố tụng họ cũng có những nguyên tắc nhất định. Cho nên, thay vì đặt ra những câu hỏi hoài nghi thì những người đang có trong đầu những câu hỏi nghi hoặc nên chờ đợi./.

Tags:

ÔNG ĐỘ, CÙ HUY HÀ VŨ VÀ BÁC SỸ NGUYỄN ĐAN QUẾ ĐANG BỊ THƯƠNG HẠI

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014 24 nhận xét

Chiềng Chạ

Kể từ lúc Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ từ chối thẳng thừng khi được đề cử là người nhận Giải thưởng Nobel Hòa bình cho những cống hiến đặc biệt trong cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước và đàm phán tại hiệp định Pari năm 1973, Bác sỹ Nguyễn Đan Quế là người thứ ba có được "vinh dự" đặc biệt này. Cùng với ông Quế còn có Hòa thượng Thích Quảng Độ, tuy nhiên, khác hẳn với vinh dự của ông Lê Đức Thọ, hai niềm vinh dự còn lại có thể xem là trò đùa hơn là niềm vui thật. 

Về trường hợp của Hòa thượng Thích Quảng Độ chắc không nói thì bất cứ ai cũng có thể hiểu đôi phần về một "đấng chân tu xôi thịt" này. Ông Độ đã làm những câu chuyện khuất tất xung quanh cái chết của Hòa thượng Huyền Quang và cả những nỗ lực công khai hóa cái gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" - một tổ chức trá hình của những kẻ "cố giữ khư khư cái quyền lợi riêng có của mình, không vì sự phát triển chung của đạo Pháp và sự đóng góp của tôn giáo này vào dòng chảy của dân tộc Việt Nam. 

Khác với ông Độ, Bác sỹ Nguyễn Đan Quế lại là một trí thức, một người được đào tạo bài bản và chuyên sâu về lĩnh vực y học. Tuy nhiên, vị Bác sỹ này không học ra để phục vụ người dân như sự kỳ vọng của những người đã đặt niềm tin vào họ, ông chỉ cần có một tấm bằng và tận dụng cơ hội được ra ngoài học tập để tìm cho mình những "chỗ dựa", những "mạnh thường quân" cho những dự án mà ông cho nó sẽ góp phần thúc đẩy nền dân chủ trong nước. Cho nên, hẳn nhiều người đã bất ngờ khi sau những năm tháng học tập và tu nghiệp tại nước ngoài, khi được đề bạt và sự kỳ vọng về những đóng góp trong tương lai tới cho nền y học nhưng ông Quế đã kiên quyết từ chối để chuyển hướng ngã rẽ cuộc đời. 

Từ một bác sỹ lẽ ra có thể cống hiến, chăm sóc cho những con người cần đến ông thì con người này chỉ biết đến với những chuyến vận động "dân chủ"trong nước và cả những năm tháng triền miên trong nhà tù vì những hành động thiếu suy nghĩ và kiềm chế của con người này. Với tổng cộng hơn 20 năm trong tù với các tội danh như "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước", hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân....gắn với các hoạt động thành lập các tổ chức chính trị đối lập như cái gọi là "Mặt trận dân tộc tiến bộ" và "Cao trào nhân bản". Đó có thể xem là cái giá tương đối công bằng cho những gì mà Bác sỹ này đã làm. 

Và lẽ ra khi nghe cái tên của ông Quế được đề cử cho Nobel Hòa bình với 278 người, trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Giáo hoàng Francis, Tổng thống Nga Vladimir Putin, nhân viên tình báo Mỹ đã đào tẩu, Edward Snowden chúng ta nên vui và vinh dự khi có một công dân Việt có được niềm vui ấy. Song, công bằng mà nói đây là sự đùa giỡn thái quá hơn là một sự xem xét công bằng và đúng đắn bởi nếu chúng ta có sự so sánh khách quan thì ông Quế sẽ không có cửa cho giải thưởng danh giá này. Điều này được xét trên hai góc độ là tiếng tăm và danh tiếng; tên tuổi của ông Quế hình như đã lẩn khuất và xa xăm tận một chốn hoang vu nào đó. Tất nhiên, là một kẻ hoang tưởng nên ông Quế khó lòng nhận thấy niềm vui cùa mình đang gắn với những toan tính ban ơn của một ai đó đang cần ông cho những hoạt động trong thời gian tới. 

Có thể hôm nay đây, khi niềm vui cơ hồ đang lan tỏa và đậm sâu thì ông Quế có thể xem đó là vinh dự và không ngại khi cho rằng: “Đây là một vinh dự cho cá nhân tôi. Tôi nghĩ rằng việc đề cử là sự khích lệ cho những anh em cùng hoạt động với chúng tôi vận động cho nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam”. Đặc biệt hơn, ông Quế bộc lộ "ông được tin này từ tổ chức Tập hợp vì nền Dân chủ ở thủ đô Washington của Mỹ. Ông Quế cho biết ông được hai dân biểu Mỹ, một thượng nghị sỹ Canada và vị chủ tịch của Tổ chức Sáng kiến Á-Mỹ, một tổ chức phi chính phủ ở Washington, đề cử cho giải Nobel Hòa bình năm nay". (Theo BBC). Nhưng thử hỏi khi cuộc bình bầu và đề cử kết thúc thì ông Quế sẽ hiểu mình đang ở đâu trong 278 con người được đề cử còn lại. Chắc khi đó ông cũng mờ mờ hiểu được đó chỉ là cái ban ơn mà những kẻ đề cử  và thông tin cho ông đang muốn gửi tới ông. Họ cứ đề cử và chuyện được nhận giải thưởng danh giá này là một chuyện hoàn toàn khác. 

Cách làm này đối với ông Quế không khác là mấy so với trường hợp của Cù Huy Hà Vũ. Những người Mỹ đã từng hứa với Vũ về một tương lai tươi sáng trên đất Mỹ và điều đó đã mê hoặc Vũ. Cho nên, rất dễ hiểu vì sao Vũ sẵn sàng nhận lời sang Mỹ chữa bệnh không do dự nhưng chính Vũ cũng không thể hiểu nổi một đặc ân bình thường ấy đối với Vũ người Mỹ đã làm ấm lòng những con người như Vũ tại quê nhà. Sau Vũ, những người Mỹ (hai dân biểu Mỹ, một thượng nghị sỹ Canada và vị chủ tịch của Tổ chức Sáng kiến Á-Mỹ, một tổ chức phi chính phủ ở Washington) tiếp tục làm ấm lòng những con người như ông Quế. Và sau những thông tin về niềm vui ngắn ngủi đến với ông Quế, một thông điệp không bỏ rơi đến với "dân chủ" trong nước đến một cách bình thường và tự nhiên. 

Song cả ông Độ, Cù Huy Hà Vũ và ông Quế đều không biết mình đang bị thương hại./.

Tags:

KHÔNG GIÁM SÁT, QUỐC HỘI CHỈ CÒN LÀ VIẾT VĂN!

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
8 nhận xét

 Chủ nhiệm HĐ Dân tộc Ksor Phước: "Hoạt động giám sát thể hiện sức sống của quốc hội"

Trước một số ý kiến tại phiên họp UB Thường vụ Quốc hội (QH) đề nghị giảm bớt hoạt động giám sát của cơ quan dân biểu trong năm 2015, Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc QH Ksor Phước khẳng định: Giám sát là nội dung cực kỳ quan trọng, thể hiện sức sống của QH. “Chính kết quả giám sát thể hiện QH đang còn sống. Nếu không giám sát thì coi như ta chỉ viết văn thôi” - ông bày tỏ.

Căng quân tham gia đoàn... giám sát

Sáng 18.4, tại phiên thảo luận dự kiến chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2015, Chủ nhiệm UB Tài chính-Ngân sách Phùng Quốc Hiển nhận định hoạt động giám sát của QH “quá dày đặc”.

Nhìn chung, một năm QH có 2 giám sát tối cao, thường vụ có 2 giám sát chuyên đề và mỗi ủy ban cũng có 2 cuộc, chưa kể giám sát mang tính chất thường xuyên và giải trình.

“Chúng tôi là ủy ban cũng căng quân để tham gia các đoàn giám sát” - ông nhận định. Theo ông Hiển, các địa phương đều phải báo cáo với các đoàn giám sát của quốc hội và đều làm rất nghiêm túc, thận trọng, song “cũng có nhiều băn khoăn”. Ông đề xuất năm 2015 nên giảm, vì các địa phương và các ngành đều có nhiều công việc phải tổng kết, đại hội.

Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý đồng tình cho rằng quá nhiều đợt giám sát, khiến việc mời đi giám sát rất khó. “Có những lần, nửa đêm tôi phải gọi điện mong các chủ nhiệm UB QH phải giao đích danh người này, người kia tham gia giám sát, sau khi nhiều người dọa về... vì có quá nhiều việc” - ông bày tỏ.

Chủ nhiệm Phan Trung Lý chia sẻ, nhiều khi đoàn giám sát của UBTV QH xuống địa phương rất hoành tráng, nhưng thành phần của đoàn... lại không như thế. Chủ nhiệm UB Kinh tế QH Nguyễn Văn Giàu đề xuất thường vụ QH cho UB “thôi không có hoạt động giám sát riêng trong năm 2015 do có quá nhiều việc”.

“QH là của nhân dân, có phải của ông nào đâu?”

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc QH Ksor Phước khẳng định không thể viện lý do “nhiều việc” mà coi nhẹ một trong 3 chức năng của QH, tức giám sát. Thậm chí, ông yêu cầu tinh thần làm giám sát phải rất quyết liệt, vì chính hoạt động này đã thể hiện quyền lực của nhân dân.

“Đất nước phát triển sôi động, yêu cầu thể chế hóa sôi động. Nhân dân đang nhìn vào QH, gửi gắm rất nhiều. Quốc hội đang bước vào cuối khóa, mà bỗng dưng “mềm” lại là không được. Đảng đã nói chống tư tưởng nhiệm kỳ. Cuối mùa mà rã đám là điều đáng chê trách” - ông nói.

Theo Chủ nhiệm Ksor Phước, QH phải sống liên tục, làm việc liên tục. “Thế mới xứng đáng gọi là QH của nhân dân, chứ có phải QH của ông nào đâu. Vì vậy, Hội đồng Dân tộc dứt khoát sẽ làm ít nhất 2 cuộc giám sát 2015. “Dù khó mấy cũng làm” - ông nhấn mạnh. Ông đề xuất Tthường vụ QH cần có 1 cuộc giám sát về vấn đề dân tộc.

Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đồng ý với Chủ nhiệm Ksor Phước, khẳng định: “Giám sát là công việc không thể bỏ ngỏ, để lắng nghe toàn dân, đánh giá đúng tình hình, giúp đưa ra những quyết sách đúng đắn”.

Ông đề xuất mỗi kỳ họp QH nên giám sát một chuyên đề và UB Thường vụ QH vẫn chọn hai chuyên đề cho một năm. Các UB được giao chủ trì 4 chuyên đề này thì sẽ không giám sát chuyên đề riêng, mà tăng cường giải trình để tránh dàn trải.

Thôi giám sát ODA, tập trung án oan sai

Phó Chủ tịch QH Tòng Thị Phóng, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng và nhiều ý kiến trong Thường vụ thống nhất đề nghị QH giám sát tối cao về tình hình oan sai trong tố tụng hình sự và bồi thường thiệt hại cho người bị oan. Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng gợi ý thường vụ QH xem xét nội dung giám sát về hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

Chủ nhiệm UB Tài chính-Ngân sách Phùng Ngọc Hiển cho rằng nên bỏ nội dung giám sát hiệu quả sử dụng vốn ODA khỏi chương trình của thường vụ QH trong năm 2015.

Lý do - theo ông, vì đây là các dự án cho vay và đi vay giữa VN và nước ngoài. Nếu đánh giá hiệu quả có thể “động chạm” đến nhiều nơi, kể cả phía đối tác nước ngoài.

“Vừa qua, có mấy vụ đại sứ các nước vào có ý kiến. Nên thận trọng” - ông Hiển nêu. Theo Chủ nhiệm UB Tài chính-Ngân sách QH, đã có rất nhiều cuộc giám sát, rà soát về đầu tư cơ bản, phát hiện được nhiều vấn đề. Trong khi đó, ODA cũng chỉ là 1 phần của đầu tư, và ODA có cơ chế quản lý riêng. Kết thúc phiên họp, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn kết luận đồng tình bỏ nội dung giám sát hiệu quả sử dụng vốn ODA khỏi chương trình của UB Thường vụ QH.

Tags:

VIỆT NAM ĐANG THỪA CÁC NHÀ NGOẠI CẢM

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
9 nhận xét



Điều người viết băn khoăn là với số tiến sĩ khổng lồ trong bộ máy hành chính, lẽ ra Việt Nam phải có một đội ngũ quản lý có tư duy khoa học mới đúng. Không lẽ khi các nhà chuyên môn trở thành các nhà quản lý, họ lập tức trở thành những nhà ngoại cảm?

Đọc tiêu đề bài viết, chắc hẳn nhiều bạn đọc sẽ nghĩ ngay tới các nhà ngoại cảm với khả năng đặc biệt. Tuy nhiên, người viết bài này hoàn toàn không hề có ý định động chạm tới lĩnh vực thiên về niềm tin và tâm linh.

Chỉ xin mượn chữ “ngoại cảm” như một ẩn dụ để nói đến hiện tượng đang ngày càng phổ biến trong bộ máy công quyền - đó là các phát ngôn và hành động dựa trên những lập luận vu vơ, thiếu cơ sở. Dĩ nhiên, kết quả hứa hẹn thu được của các phát ngôn và hành động ấy cũng “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.”

Không phải cuộc… tìm mộ

Xét đến cùng, công việc của một số nhà ngoại cảm được xã hội chấp nhận nếu động cơ không vụ lợi, vì địa hạt hoạt động của họ là nơi không thể có đủ thông tin khoa học. Nhưng quản lý nhà nước và hoạch định chính sách không phải là một cuộc… “tìm mộ”, bởi lẽ vẫn có nhiều cách để thu thập, xử lý thông tin và đưa ra quyết sách, hành động dựa trên cơ sở khoa học. Có điều, dường như bộ máy công quyền cơ sở trong nhiều trường hợp đã và đang hành xử như các nhà “ngoại cảm”.

Đã từ lâu, ở nước ta có truyền thống cán bộ xuống làm việc với địa phương sẽ phát biểu chỉ đạo từ việc “nuôi con gì, trồng cây gì” cho tới việc hoạch định phát triển lâu dài. Có tâm lý, dường như, khi lên một chức vụ cao hơn thì lập tức người đó sẽ trở nên thông tuệ về mọi mặt và có thể trở thành chuyên gia của nhiều lĩnh vực, giáo sư đầu… nhiều ngành để có thể chỉ đạo, định hướng được một cách rộng khắp mà không cần căn cứ vào bất cứ cơ sở cụ thể nào. Và cũng chẳng ai (dám) kiểm chứng xem nếu những chỉ đạo, định hướng ấy được “quán triệt thực hiện” thì hiệu quả sẽ đến đâu?

Khi nói tới hai chữ hiệu quả, người viết muốn bàn thêm rằng trong môi trường học thuật, người ta rất ngại động chạm tới vấn đề đánh giá hiệu quả, bởi lẽ để khẳng định sự hiệu quả cần có những tiêu chí, công cụ tin cậy được xây dựng để đo lường nó. Chưa kể, khi phân tích tác động cũng cần hết sức thận trọng bởi trong nhiều trường hợp người ta cứ lầm tưởng rằng biến số này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới kết quả kia nhưng tính toán ra thì hoàn toàn không phải vậy. 

Thế nhưng trong công tác quản lý nhà nước hiện nay, sự thận trọng đó dường như là điều hiếm quý. Ngay cả khi sự kiện đó chưa bắt đầu, nhiều quan chức đã mạnh dạn tuyên bố. tỷ như tổ chức các cuộc thi hoa hậu, đăng cai các sự kiện thể thao sẽ thu hút du lịch, đầu tư, nâng cao vị thế và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế. Xin đặt một câu hỏi, dựa vào đâu các vị có thể đưa ra những kết luận chắc nịch như thế? Trong khi người viết tin rằng để chứng minh một vế nhỏ trong các mệnh đề dài dằng dặc trên cũng cần một công trình khoa học nghiêm chỉnh.Và thực tế, sự kiện thể thao đình đám kia đã phải hoãn lại.

Đã có ai thống kê xem, vào những năm chúng ta tổ chức các sự kiện ầm ĩ và tốn kém đó, lượng khách du lịch có tăng? Nếu có thì liệu những sự kiện trên có phải là một nguyên nhân tác động đến sự gia tăng đó? Đã có ai điều tra khảo sát được rằng có phải số khách du lịch đến Việt Nam tăng lên là do sự kiện đó? Hay chỉ đơn thuần trùng khớp với thời điểm kinh tế thế giới ổn định, thu nhập tăng lên, chi phí đi lại rẻ hơn thúc đẩy nhu cầu du lịch?

Khi tới Việt Nam, du khách có tham gia vào chuỗi các hoạt động liên quan tới sự kiện đình đám đó hay không? Và kể cả khi chứng minh được mối liên hệ giữa sự gia tăng về lượng du khách và các sự kiện văn hóa, thể thao thì chi phí bỏ ra va doanh thu thu về đã tương xứng? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi đó thì cơ sở nào để các cơ quan hữu quan khẳng định như đinh đóng cột rằng các sự kiện đó nên làm và phải làm?

Đó mới chỉ là vế về thu hút du lịch, có những điều còn mơ hồ hơn nữa chẳng hạn như lấy gì để đo lường tác động của các sự kiện trên tới cái gọi là vị thế và hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế? Cho nên để nói rằng một cuộc thi hoa hậu hay một đại hội thể thao đem lại những lợi ích đó mà không có luận chứng, luận cứ thì đâu có khác gì một sự ngoại cảm?

Tính “ngoại cảm” đang gia tăng

Chuyện con đường cong mềm mại gần đây cũng cho thấy tính “ngoại cảm” của người làm công tác quy hoạch và phát triển đô thị.

Câu hỏi quan trọng là tại sao từ đầu năm 2000, theo thiết kế thì con đường vẫn thẳng mà nay lại có hình thù kỳ dị như vậy. Việc mà cơ quan quản lý cần làm là đưa ra những bằng chứng thuyết phục chứng minh cho tính minh bạch.

Đáng sợ hơn, cả khi gần đây ngày càng có nhiều vụ việc cho thấy không ít cán bộ trong ngành tư pháp - những người cầm cân nảy mực trong việc bảo vệ pháp luật, có quyền quyết định mạng sống con người cũng hành động như những nhà “ngoại cảm”. Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn khiến người ta chưa hết hoảng sợ bởi bi kịch nảy sinh từ những vi phạm điều tra phạm luật, thiếu khách quan, thì mới đây dư luận lại bàng hoàng vì vụ án 05 sĩ quan công an dùng nhục hình đánh chết người. 

Ông chánh án của TAND t/p Tuy Hòa một lần nữa khiến người dân bất bình về những phát biểu hết sức cảm tính và mập mờ. Thật không quá đáng nếu chúng ta gọi những người như ông chánh án này là những nhà “ngoại cảm” trong ngành tư pháp khi mà những phát ngôn của ông với báo chí không thấy trích dẫn một điều luật nào rõ ràng mà chỉ toàn thấy những “phức tạp”, “nhạy cảm”

Vậy thì từ những câu chuyện trên, liệu người dân có nên đặt câu hỏi hoài nghi với lối phát biểu quen thuộc của nhiều vị quan chức khi đưa ra những tỷ lệ hết sức lạc quan như đa số, phần lớn, đại bộ phận… Không rõ đã có ai khảo sát, thống kê để minh chứng cho những con số đó chưa, hay đơn giản đó cũng là một sự “ngoại cảm”?
 
Điều người viết băn khoăn là với số tiến sĩ khổng lồ trong bộ máy hành chính, lẽ ra Việt Nam phải có một đội ngũ quản lý có tư duy khoa học mới đúng. Không lẽ khi các nhà khoa học trở thành các nhà quản lý, họ lập tức trở thành những nhà ngoại cảm kinh tế, văn hóa, xã hội? Hoặc giả trong số đó rất ít người thực sự là các nhà khoa học?

Đó là những câu hỏi chỉ có người trong cuộc có thể trả lời!

Khương Duy/Vietnamnet

Tags:

NỖI XẤU HỔ CÙNG BA LỜI KHUYÊN CỦA CỰU BỘ TRƯỞNG TRẦN XUÂN GIÁ

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
10 nhận xét



Lời khuyên thứ ba, lời khuyên quan trọng nhất của ông cho con cháu: “Không làm ông chủ. Hãy làm thuê mà sống”. Chao ôi! Xấu hổ biết bao nếu thế hệ trẻ hôm nay lại nhận những lời khuyên có thể nói là bạc nhược, tệ hại, tầm thường ấy từ bậc cha mẹ thân yêu của mình.

Vụ án bầu Kiên chấn động dư luận không chỉ vì liên quan đến ông Nguyễn Đức Kiên, một “người hùng” trong giới kinh doanh ngân hàng, một “người hùng” trong làng “bầu sô bóng đá” mà còn liên quan đến ông Trần Xuân Giá – một chính khách nổi tiếng.

Rõ ràng ông Trần Xuân Giá không chỉ là một quan chức cao cấp của nhà nước mà còn là một người đã từng có vai trò không nhỏ trên các diễn đàn kinh tế, chính trị, xã hội của nước nhà, và đã thực sự là một chính khách ưu tú khi góp phần không nhỏ vào tiến trình ra đời “Bộ luật Doanh nghiệp”  – một Bộ luật tiến bộ mang tầm nhìn cải cách kinh tế, tác động lớn vào phát triển kinh tế quốc gia.

Tôi từng tôn trọng ông Trần Xuân Giá và từ trong tâm của mình tôi mong điều ông nói ông “hoàn toàn vô tội” là sự thật. Nhưng sự tôn trọng của tôi về ông đã bị mất đi, không phải vì “niềm tin vào sự trong sạch” của ông trong “vụ án bầu Kiên” làm thất thoát hàng trăm tỉ bị chao đảo mà bởi vì “lời tâm sự” mới đây của ông trước phiên tòa, trên một tờ báo, làm tôi buộc phải đánh giá lại những phẩm chất gọi là “cách mạng”, gọi là “chính khách quốc gia” của ông.

Lời tâm sự của ông như sau: “Tôi định hướng cho con cháu 3 điều không: 1. Không theo chính trị; 2. Không làm việc trong hệ thống nhà nước; 3. Không làm ông chủ. Hãy làm thuê mà sống. Nhưng muốn sống tốt thì phải giỏi chuyên môn để là người làm thuê giỏi, để được tôn trọng”.

Nếu lời tâm sự này xuất phát từ một người dân bình thường, có thể chấp nhận được. Nhưng, xuất phát từ một người trí thức yêu nước, có trách nhiệm với đất nước thì khó có thể chia sẻ. 

Và không thể chấp nhận được nếu xuất phát từ một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước, từ một “nhà hoạt động cách mạng”, từ một “chính khách tiên tiến”. Bởi, điều đó đã bộc lộc cái vỏ bọc gọi là “cách mạng”, gọi là “hết mình hi sinh vì tổ quốc” lâu nay của không ít những người như ông. Bởi, nó đi ngược lại biết bao lời “huấn thị tâm huyết” của chính ông, của những người như ông tại các diễn đàn quốc gia.

Từ lời tâm sự trên của ông, nhiều người có thể cảm thông với ông vì bây giờ trước những cái gọi là “tai họa” ông đã thành thật với chính mình. Vâng, tôi cũng có thể cảm thông với ông về sự dám thành thật ấy - cái điều đang coi là xa xỉ với không ít quan chức đang tại chức.

Nhưng ở bình diện quốc gia, dân tộc thì tôi vô cùng phẫn nộ trước thái độ thụ động, thu vén mang tính “lợi ích bản thân gia đình” của ông, nhất là trong tình cảnh vô vàn khó khăn này của dân tộc, của đất nước.

Chúng ta đang rất cần tuổi trẻ xả thân vì đất nước, tuổi trẻ phải giành lấy quyền nắm vận mệnh đất nước, vận mệnh tương lai của mình và của dân tộc, ấy vậy mà ông lại khuyên vậy, định hướng cho lớp trẻ con cháu ông: “Không theo chính trị” - tức không quan tâm bằng ý thức, tình cảm, trí tuệ, hành động vào con đường chính trị - con đường liên quan sống còn đến vận mệnh đất nước, giang sơn, giống nòi, phát triển hay tụt hậu, đói nghèo hay hạnh phúc, hèn kém hay hùng cường, nô dịch hay độc lập, chiến tranh hay hòa bình.

Chính trị là tất cả. Chính trị đâu chỉ như không ít người hiểu, ấn định ngấm ngầm hiểu đó là con đường tiến thân danh lợi quan chức nhà nước?

Triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle từng nói: “Con người khác con vật ở chỗ, con người biết quan tâm đến chính trị và biết tham gia chính trị”. Thực tiễn đã chứng minh, quốc gia nào văn minh, dân chủ chính là các quốc gia đa số công dân có ý thức chính trị cao nhất.

Lời khuyên thứ hai: “Không làm việc trong hệ thống nhà nước”. Tại sao ông lại có thể khuyên con cháu mình tháo chạy khỏi các cơ quan nhà nước, khi chính các cơ quan công quyền đóng vai trò to lớn trong việc hành pháp, tư pháp, lập pháp và trong đó có những đơn vị quân đội, an ninh, nhận sứ mệnh bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân?

Lẽ ra ông phải khuyên ngược lại: “Đời cha, cha thấy cơ quan nhà nước có nhiều sai sót, các con hãy tình nguyện vào đó cống hiến không vì quyền lợi riêng mình mà vì quyền lợi đất nước, đấu tranh quyết liệt với cái xấu, quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm giúp thay đổi hình ảnh các cơ quan nhà nước ấy”.

Vâng, lời khuyên ấy mới là lời khuyên của một người thực sự lo cho dân, cho nước. Thật ra tôi rất hiểu rằng, từ trải nghiệm của ông học cao, rộng, một người cả đời miệt mài làm công chức rồi lãnh đạo cơ quan nhà nước, có thể ông “ngộ’ ra nhiều sự thật, và có thể ông cảm thấy bất lực nên khuyên con cháu tốt nhất nên tránh xa nó ra.

Tôi biết, khi tôi phê phán quan điểm của ông, sẽ có không ít người nhân danh cái gọi là “thực tế khách quan” để bảo vệ ông thực ra cũng là để bảo vệ quan điểm của chính họ và “ném đá” vào tôi, coi tôi là một kẻ “mơ tưởng hão huyền” nào đó. 

Tôi chấp nhận bị ném đá. Vì tôi nghĩ đến em trai tôi giữa tuổi 20 đã ngã xuống vì cái ước mơ: độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Vì tôi nghĩ đến hàng triệu người Việt đã phải đổ máu, đau khổ vì nhiều lý do khác nhau của sự phân ly, của ý nghĩa đích thực hai chữ “yêu nước”, và ý nghĩa đích thực hai chữ “cách mạng”. Một quốc gia không thể mạnh nếu được điều hành bởi một nhà nước rệu rã, một nhà nước mà người dân phải “tránh xa” được!

Lời khuyên thứ ba, lời khuyên quan trọng nhất của ông cho con cháu: “Không làm ông chủ. Hãy làm thuê mà sống”. 

Chao ôi! Xấu hổ biết bao nếu thế hệ trẻ hôm nay lại nhận những lời khuyên có thể nói là bạc nhược, tệ hại, tầm thường ấy từ bậc cha mẹ thân yêu của mình.

Dân tộc Việt này sẽ ra sao đây nếu con cái của các “tinh hoa cốt lõi đất nước” từ bỏ sứ mệnh làm chủ để can tâm và “tự hào” cái phận kẻ làm thuê – dù là kẻ làm thuê số 1?

Vâng, thưa ông cựu bộ trưởng Trần Xuân Giá, tự đáy lòng tôi, tôi mong ông sớm hồi phục sức khỏe để chiến thắng trong việc giành sự trong sáng trong phiên tòa kinh tế sắp tới. Nhưng rất tiếc dù có thoát được bản án nào đó, dù có được tuyên “vô tội” thì ông chắc chắn sẽ phải đối diện với một phiên tòa khác, đó là “phiên tòa lương tâm” của mình.

Một phiên tòa rất cần thiết không chỉ cho tôi, cho ông, cho tất cả công dân Việt về một khát vọng cháy bỏng cho dân tộc, quốc gia vượt lên tất cả “lợi ích nhóm”, “lợi ích cá nhân” vì lợi ích dân tộc quốc gia – xây dựng một nước Việt thực sự hùng cường – một nước Việt của những người làm chủ thật sự, chứ không phải của những kẻ làm thuê và tự hào rằng, ta là “người làm thuê được ông chủ tôn trọng”.

Lưu Trọng Văn/Một Thế Giới

Tags:

ĐỪNG HÀNH XỬ VỚI TRẺ EM NHƯ MỘT TÊN "CÔN ĐỒ"

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014 14 nhận xét

Chiềng Chạ
Trẻ em như búp trên cành, là đối tượng nhạy cảm nên những đối xử của người lớn trong những năm tháng đầu đời có ý nghĩa đặc biệt trong hình thành nhân cách và ý thức của trẻ. Trong một chừng mực nhất định, những hành vi kiểu "ngược đãi", bỏ qua sự khoan hồng và tính nhân đạo sẽ là "vết hằn" trong tâm hồn trong trắng của các em. 

Có một điều chắc chắn là không ai mong muốn thế hệ làm chủ đất nước và xã hội tương lai mất dần đi những đức tính, phẩm chất của một con người bình thường nhất như sự khoan dung, rộng lượng và vị thế. Vì thế, nếu chẳng may thiếu những điều đó thì xã hội trong tương lai thực sự đắm c chìm trong bi kịch và thảm họa. Tuổi nào cách đối xử nấy, đó là điều cần thiết để thế hệ trẻ có một nhân cách đúng nghĩa nhất. Vị thế và khoan hồng với trẻ đồng nghĩa với việc tạo dựng một xã hội nhân văn trong tương lai. Bài viết của PGS.TS Huỳnh Văn Sơn sẽ làm sáng tỏ những thực trạng và hệ quả của những phương cách cụ thể trong đối xử với trẻ. 

Đôi khi trẻ có hành động lấy cắp, cầm nhầm đồ của người khác như vậy chỉ đơn giản là vì chúng quá thích món đồ ấy. Do không cưỡng lại được ý muốn sở hữu món đồ mình thích, hoặc không có điều kiện để mua, trẻ sẽ tìm cách giấu đi và đem về nhà mình.

Hành vi ấy có thể được đánh giá, phê bình hay điều chỉnh… Nhưng không được phép đối xử với trẻ như một tên côn đồ hay một nhân cách bị bôi đen toàn phần không gột rửa…

Không ai cho phép xem trẻ như một tên 'tội phạm'
Những ngày gần đây, dư luận đang xôn xao về hành vi của nhân viên, bảo vệ của một siêu thị tại Gia Lai bắt phạt một em học sinh phải mang tấm bảng “Tôi là đồ ăn trộm” khi phát hiện một em học sinh lớp 7 lỡ lấy 2 cuốn sách (chừng 10.000 đồng/cuốn). 

Trong khi hành vi này là sai, hành vi này lệch chuẩn theo quy định của siêu thị hay một cá nhân nhưng không thể và không ai cho phép xem xét trẻ như một tên tội phạm chuyên nghiệp, kẻ ăn cắp xuyên tỉnh hay một tên côn đồ thứ thiệt…
Xét ở một khía cạnh nào đó, thì hành vi lấy cắp đồ của người khác là hoàn toàn sai trái. Người lớn có thể răn đe, giáo dục trẻ để trẻ không tái phạm nữa. Tuy nhiên, điều đáng nói trong vụ việc trên là cách hành xử của người lớn đối với em học sinh kia. 

Vì đằng sau hành vi trách phạt của người khác dành cho trẻ em là một sự cảm thông, đằng sau sự phê bình là một định hướng đúng đắn, đằng sau hành vi giáo dục là một sự mở ra cho một nhân cách được phục thiện, được định hướng phát triển theo hướng tốt hơn…

Không phải ngẫu nhiên người ta dùng mỹ từ dạy dỗ để dành cho tác động của người lớn với trẻ em và cái dỗ ở đây là phần hồn của dạy và đó mới chính là sự lung linh và cao cả cũng như đầy tình nhân văn trong việc giáo dục con người.

Có lẽ, khi phát hiện ra hành vi của em học sinh ấy, những người chủ ở đây đã nghĩ đến một hình phạt làm sao cho thật “đích đáng”, làm sao cho thật “hả giận” mà quên rằng đó mới chỉ là học sinh lớp 7.

Với một trẻ nhỏ mới chỉ bước vào giai đoạn đầu của tuổi teen – những hành vi bộc phát vẫn có thể nảy sinh… Khoan nghĩ rằng các em đã cố tình hay vô ý, nhưng cần giúp các em phải chịu trách nhiệm về hành vi ấy, cần giúp các em hiểu chuẩn mực của hành vi thay vì chỉ phê án lạnh lùng bằng ba chữ: “Tôi ăn cắp”. 

Và họ cũng chưa từng quan tâm tại sao em ấy lại có những hành vi như vậy? Phải chăng đó là lúc em không kiểm soát chính mình? Phải chăng em đã bị bạn bè thôi thúc? Hay phải chăng chính hoàn cảnh và điều kiện của em đã khiến em có hành vi không đúng đắn?

Bao giờ mới bỏ xuống được?
Theo giả định, lúc bị tra hỏi, em học sinh đó chỉ cúi đầu. Đó là hành vi nhận lỗi, thái độ ân hận. Người lớn có nhận thấy điều này?

Và những ai đã đối xử với em dù chỉ là sự thụ động hay ngây ngô, có hiểu rằng em chỉ là một đứa con nít? Em sẽ bị thương tổn thế nào với vết nhơ không thể gột rửa mà đôi khi không phải ở hành vi của em mà chính người lớn đã gán cho em? Liệu chăng những ai đã làm thương tổn em, có dấu hiệu vùi dập nhân cách em quên rằng chúng ta cũng có tuổi thơ, cũng có sĩ diện và vốn dĩ chúng ta cần giàu lòng nhân ái?

Có lẽ câu hỏi ấy và hàng loạt những câu hỏi có liên quan sẽ được bỏ ngỏ dành cho người trong cuộc. Nhưng ít nhiều, qua hành vi đối xử ấy (dù của nhân viên siêu thị hay của người có trách nhiệm) chỉ quan tâm đến việc sai là phạt, mà phạt là phạt cho đáng. 

Người lớn không biết rằng, chính hành động của họ đã làm tổn thương sâu sắc đến tâm lý của một đứa trẻ đang lớn. Có lẽ, tấm bảng mà siêu thị ấy đã vội vã trao được, vội vàng tháo ra ngay sau khi mọi người lên tiếng nhưng tấm bảng trong tâm hồn non nớt của em thì đến bao giờ mới bỏ xuống được?

Nếu người lớn trong vụ việc trên chịu nghĩ đến đánh giá của người khác với em và những hậu quả nặng nề trong tâm lý của em thì chắc chắn sẽ không hành động như vậy. Còn hành động chụp hình đăng tải lên trang mạng xã hội là việc khó có thể chấp nhận được.

Trong lúc người khác đang cảm thấy bị tổn thương và đau khổ nhất thì có người lại lấy đó làm trò đùa, dùng những tấm ảnh đó với mục đích khoe khoang mình vừa bắt tận tay một vụ mất cắp ư? Phải chăng là quá tàn nhẫn. Nếu đó là người thân của mình, họ có hành động như thế không?

Xin một chút lương tâm, một chút tình thương “thừa thãi” dành cho những người đã biết mình sai, những người đã sa cơ – thất thế hay những mầm non nhân cách cần được uốn nắn, bảo vệ…

Dù sao, nạn nhân của vụ việc này vẫn chỉ là một đứa trẻ đừng hành xử với các em như với một tên côn đồ. Đôi khi trẻ có hành động lấy cắp, cầm nhầm đồ của người khác như vậy chỉ đơn giản là vì chúng quá thích món đồ ấy.

Do không cưỡng lại được ý muốn sở hữu món đồ mình thích, hoặc không có điều kiện để mua, trẻ sẽ tìm cách giấu đi và đem về nhà mình. Tất nhiên, lúc này trẻ chưa nhận thức được hậu quả của việc mình làm. Và chỉ có những người về bản chất là côn đồ, hàng loạt những hành vi sai trái, hàng loạt những thái độ thiếu chuẩn mực và có dấu hiệu lươn lẹo hay quy gán về phẩm chất mới đáng bị đối xử như thế…

Thiết nghĩ, giá như có một sự giải thích cho em học sinh ấy ăn cắp là gì và việc ăn cắp xấu xa như thế nào, hậu quả của việc ăn cắp ra sao và dừng lại ở việc phạt 200 ngàn đồng thì sự việc sẽ không đến mức phải ân hận.

Đôi khi chỉ cần giải thích như thế này, trẻ sẽ hiểu và không lặp lại nữa. Giá như đừng đẩy thêm những hành vi vùi dập em bằng tấm bảng định hình một nhân cách bị hủy hoại, hay đừng thêm một lần vô cảm vùi dập và giày xéo lên tâm hồn và danh dự của em trước cộng đồng thì mọi sự đã có thể nhẹ nhàng hơn…

Trách nhiệm làm nhân viên rất cần, nhưng cũng cần trách nhiệm làm người lớn. Cần lắm trách nhiệm tuân thủ quyền của trẻ em… Và cần lắm những hành vi văn minh trong kinh doanh những sản phẩm văn hóa trong đời sống con người…
PGS.TS Huỳnh Văn Sơn

Tags:

CON ĐƯỜNG NÀO CHO VIỆT NAM?

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
11 nhận xét

CON ĐƯỜNG NÀO CHO VIỆT NAM? 

Lại Thế Du

1. Cần phát triển thêm các lý luận của Marx 

Những lúng túng trong việc giải thích về định hướng XHCN của Việt Nam có lẽ là do sợ vi phạm các nguyên lý của Marx và Lenin, lý thuyết nền tảng của CNXH. Tuy nhiên, giờ đây Việt Nam cần có cái nhìn uyển chuyển hơn về vấn đề này. 

Sự vĩ đại của Marx trong lịch sử nhân loại là không thể phủ nhận. Ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thế giới. Những lý luận của Marx là một trong những nền tảng quan trọng của kinh tế học và triết học hiện đại, nhất là những vấn đề về địa tô về chính trị học đô thị (xem David Harvey 2009, David Judge, Gery Stoker và Harold Wolman 1995). Ngày nay, các lý thuyết của ông không ngừng được tìm hiểu và phát triển, nhất là sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng toàn cầu vào năm 2008. David Havey (2010&2013) là một trong những người tiên phong nghiên cứu về Marx hiện nay. 

Những phân tích về giá trị thặng dư, về bóc lột của Marx có thể đúng trong xã hội mà tính đồng nhất của các loại hàng hóa rất cao và hầu hết các hoạt động sản xuất đều là thâm dụng lao động và các tư liệu sản xuất thông thường. Giá trị của một mét vải nhìn chung là như nhau và sức lao động kết tinh rất lớn trong đó. Cách thức mà các nhà tư bản, những ông chủ sử dụng chủ yếu để bắt người lao động làm việc cật lực nhằm đem lại sự giàu có cho nhà tư bản là kỷ luật và đàn áp. Do vậy, tư duy cần có “chuyên chính vô sản” và nhà nước đứng ra làm thay thị trường để chống lại tình trạng người bóc lột người có thể là hợp lý trong bối cảnh những mặt trái của chế độ công hữu về TLSX chưa được nghiên cứu cũng như trải nghiệm qua. 

Tuy nhiên, thời đại “ăn chắc mặc bền” cách đây hơn một trăm năm rất khác với thời đại “ăn ngon mặc đẹp” ngày nay. Việc rập khuôn cứng nhắc các lý luận của Marx không còn phù hợp với bối cảnh hầu hết các hoạt động kinh tế thiên về thâm dụng tri thức, tài năng và vốn hơn là lao động. Bill Gates trở thành một trong những người giàu nhất thế giới chính là nhờ ông đã tạo cho nhân loại một giá trị lớn hơn khối tài sản của ông nhiều lần chứ không phải do bóc lột của người khác. Thêm vào đó, xét về sức lao động, công sức của một cầu thủ chuyên nghiệp trung bình chạy trên sân chắc chắn không kém Messi hay Ronaldo - hai cầu thủ bóng đá hay nhất hành tinh hiện nay, nhưng thu nhập của hai cầu thủ này cao hơn rất nhiều lần so với những cầu thủ khác. Lý do là họ giúp cho khán giả có được niềm vui sướng nhiều hơn, giá trị thương mại hình ảnh của họ cao hơn chứ không phải họ lao động nhiều hơn. 

Vấn đề ai bóc lột ai và như thế nào gọi là bóc lột thì ngày nay cũng đã khác. Dựa vào định nghĩa “Nhà tư bản là chủ sở hữu vốn” của Marx thì hầu hết người dân ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều là nhà tư bản vì họ sở hữu cổ phiếu của các công ty. Điều này cũng đúng với chủ sở hữu các công ty cổ phần ở Việt Nam. Tuy nhiên, có một khía cạnh khác của vấn đề này. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua cho thấy những người điều hành các doanh nghiệp -những người làm thuê cao cấp (lao động cổ vàng), đã dùng tài sản của các chủ sở hữu công ty để trục lợi cá nhân. Nói cách khác là các “ông chủ” đã bị “người làm thuê” của họ tước đoạt tài sản hay bóc lột sức lao động được tích lũy trong các khoản tiết kiệm của họ. Thêm vào đó, trí tuệ và thời gian của mỗi người là những thứ có giá trị, nhưng không thể cất giữ được. Nếu một người không chịu làm việc, lười suy nghĩ thì cả thời gian và trí tuệ đều trôi theo thời gian. Ngược lại, những người có cách thức khuyến khích và đầu tư để nhiều người cùng tư duy sáng tạo, hăng say làm việc tạo ra nhiều của cải cho xã hội và mọi người đều khấm khá hơn (cho dù người ít người nhiều) thì như vậy đâu thể gọi là bóc lột. Trên thực tế, rất nhiều người muốn “bị bóc lột” như vậy. 

Những lập luận nguyên bản của Marx và Lenin có thể vẫn còn những giá trị, nhưng chỉ riêng chúng không thể giải thích được thực tế sinh động hiện nay. Sự thất bại của mô hình kinh tế tập trung và những nghiên cứu cũng như bằng chứng thực nghiệm về các hình thức sở hữu và hành vi đã chỉ ra rằng chế độ công hữu về TLSX không tạo ra động lực và cơ chế để nguồn lực được sử dụng hiệu quả, ít nhất là trong thời đại của chúng ta. 

Xét về lý tưởng, mô hình kinh tế kế hoạch, nhà nước làm thay thị trường nếu thành công thì tốt đẹp hơn nhiều so với kinh tế thị trường. Tuy nhiên, mô hình này đã vi phạm nguyên tắc cốt lõi về hành vi của con người. Điều nghịch lý là quyết định cá nhân và quyết định tập thể là khác nhau. Nếu một việc làm nào đó, để mỗi cá nhân làm thì tất cả mọi người sẽ có hành động như nhau, nhưng cũng những người này cùng tập hợp lại để đưa ra quyết định tập thể thì quyết định thường là trái ngược với quyết định của mỗi cá nhân. Trong chế độ công hữu, tình trạng ăn theo và “cha chung không ai khóc” là điều khó tránh khỏi. Hơn thế, trong bối cảnh không thể kiểm soát được hành vi thì hành động hợp lý của hầu hết những người được giao quản lý DNNN là sử dụng của công để trục lợi cá nhân, củng cố địa vị của mình, thay vì đạt được các mục tiêu cao đẹp. Đây là lý do cơ bản làm cho các DNNN hoạt động không hiệu quả. Do vậy, chỉ trong những trường hợp thực sự cần thiết, nhà nước mới nên hình thành một số lượng hạn chế các DNNN như nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay chứ không nên thành lập đại trà và càng không nên gán cho DNNN vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. 

Mô hình sở hữu mà nó tạo động lực để các nguồn lực của xã hội được sử dụng hiệu quả chính là sở hữu cá nhân. Ngay cả ở các nước Bắc Âu cũng đang triệt để tiến hành tư nhân hóa mà ở Việt Nam gọi là xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ công chứ không nói gì đến các hoạt động kinh doanh. Ngay cả nhà tù, một công cụ nhiều người nghĩ nhà nước cần phải làm hiện cũng đã được giao cho tư nhân quản lý ở một số nước (Cody Mason 2013). Tuy nhiên, cần phải hết sức lưu ý khi thực hiện việc xã hội hóa một số dịch vụ hay hàng hóa có ngoại tác tích cực ở Việt Nam như giáo dục hay y tế chẳng hạn. Nếu làm không kỹ thì rất có thể của công vừa bị mất mà chất lượng dịch vụ hay tính công bằng trong việc được hưởng các dịch vụ này lại giảm đi. Việc tạo ra các chương trình chất lượng cao với học phí cao trong các trường công hiện nay là một ví dụ. Nếu không khéo, phần lớn tài sản và nguồn lực của công lại được tập trung vào những chương trình này cho một số ít người có tiền được hưởng và những người tổ chức chúng “vớt váng sữa” để có những khoản thu nhập hậu hĩnh mà về bản chất là một hình thức tham nhũng tinh vi với cách hiểu chuẩn tắc là lạm dụng quyền lực hay của công để trục lợi cho cá nhân. 

2. Cần một sự nhất quán và thực tế hơn 

Sự mâu thuẫn giữa chủ thuyết phát triển chính thống và thực tế đã làm Việt Nam hết sức lúng túng trong việc ứng phó với những trục trặc cũng như định hướng phát triển một cách nhất quán. Cải cách đang gặp vô vàn khó khăn vì không thể dung hòa được những vấn đề có tính nguyên lý hoàn toàn trái ngược nhau. Kinh tế thị trường với nền tảng sở hữu tư nhân không thể dung hòa được với định hướng XHCN theo cách hiểu là chế độ công hữu về TLSX. 

Việt Nam đã chọn kinh tế thị trường vì đó là con đường để đi đến thịnh vượng mà tất cả các nước thành công đã đi qua, trong khi những nước phủ nhận kinh tế thị trường đều đã thất bại hoặc đang gặp trục trặc. Đối với khái niệm định hướng XHCN, nên hiểu là sửa chữa những khuyết tật hay thất bại của thị trường để có được sự phân bổ nguồn lực trong xã hội hiệu quả và công bằng hơn. Lúc này kinh tế thị trường và định hướng XHCN sẽ chuyển từ mâu thuẫn sang bổ sung cho nhau. Trong một phát biểu gần đây, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh (2013) cũng ngụ ý việc này: 

Chúng ta tuyên bố xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Không sai. Nhưng bây giờ phải rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng XHCN là thế nào? Đâu phải nó là một mô hình kinh tế thị trường riêng biệt so với thế giới. Bởi "kinh tế thị trường" là cái tinh hoa của nhân loại rồi, còn "định hướng XHCN" là nói về vai trò của Nhà nước. 

Để mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể phát huy tốt đưa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh sớm trở thành hiện thực, Việt Nam cần làm rõ hơn nữa các khái niệm then chốt để có những định hướng rõ ràng trong mô hình phát triển của mình. Ở vế kinh tế thị trường, nhà nước chỉ nên tập trung vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh và xây dựng một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Đối với vế XHCN, nhà nước nên tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội mà khu vực thị trường không thể hoặc thực hiện không hiệu quả. Với cách hiểu như vậy, sẽ không nhất thiết phải đặt ra vấn đề công hữu hay tư hữu, nguyên nhân của những rắc rối trong thời gian qua. 

Nói đến kinh tế thị trường nhiều người sẽ hình dung ngay đến các nước phát triển và cho rằng đó chính là chủ nghĩa tư bản. Thực ra, các nước phát triển đã gặt hái được thành công không chỉ nhờ tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường mà còn hạn chế được những mặt trái của nó. Trong khi đó, nhiều nước đã không thành công, hay ít nhất cũng gặp rắc rối, do đã lãng quên hay không xử lý được những thất bại hay khuyết tật của thị trường. Ở những mức độ khác nhau, các nước chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường đều đang gặp phải vấn đề như phân tích ở trên. 

Nền kinh tế Việt Nam không phải là tư bản chủ nghĩa nhưng trong nhiều thập niên nữa cũng chưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà là định hướng xã hội chủ nghĩa (Đỗ Hoài Nam 2013). Mô hình ở các nước bắc Âu kết hợp được tính ưu việt của kinh tế thị trường, và XHCN hay một nhà nước phúc lợi là một mô hình đáng tham khảo cho Việt Nam. Muốn làm được điều này, cần phải xác định rõ ba trụ cột chính gồm: 
1) các doanh nghiệp hay khu vực thị trường làm nhiệm vụ tạo ra của cải cho toàn xã hội; 
2) nhà nước phúc lợi đóng vai trò sửa chữa các khuyết tật của thị trường, phân phối một phần nguồn lực của xã hội để vừa đảm bảo sự công bằng, cân bằng, hiệu quả và sự tiến triển cho toàn xã hội;
3) một xã hội dân sự năng động tạo ra lòng tin lẫn nhau để có được một vốn xã hội giúp cho các hoạt động kinh tế trở nên hiệu quả hơn và vai trò phân phối nguồn lực của nhà nước trở nên hữu hiệu hơn. 

Tags:

CON ĐƯỜNG NÀO CHO VIỆT NAM? (P9)

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
2 nhận xét

CON ĐƯỜNG NÀO CHO VIỆT NAM?

Lại Thế du

I. CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM 

Có lẽ không cần phải nhắc lại con đường mà Hồ Chủ Tịch và những nhà cách mạng tiền bối đã đến với các học thuyết của Marx và Lenin rồi đưa về Việt Nam. Viễn cảnh về một xã hội cộng sản của Marx quả là đẹp và bạo lực cách mạng của Lenin để giải phóng dân tộc quả là nhiệm màu. Có lẽ không chỉ Nguyễn Ái Quốc mà nhiều người ở những quốc gia thuộc địa khác cũng đã khóc lên một cách vui sướng khi tìm được “báu vật”, tìm được con đường giải phóng và đưa dân tộc đến ấm no. Niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản lúc bấy giờ là không thể nghi ngờ như cố giáo sư Đặng Phong đã viết: 

Nếu nói đến nền tảng và cốt lõi của những niềm xác tín đó thì phải kể đến hoàn cảnh lịch sử, thậm chí là những tất yếu lịch sử... ít nhất là từ đầu thế kỷ XX. Khi ấy, Việt Nam còn dưới ách thống trị nghiệt ngã của thực dân Pháp...Nhiều lực lượng khác nhau đã tìm cách lật đổ ách thống trị.nhưng đều thất bại. Sau cùng, chỉ có một cánh cửa duy nhất mở ra một khung trời hoàn toàn mới, đầy sức thuyết phục và quyến rũ, vì sau cánh cửa đó không xa là một chế độ mà nhiều nhà cách mạng đặt tên là mùa xuân của nhân loại - đó là chủ nghĩa xã hội. Đối với lớp lớp thế hệ đầu xanh tuổi trẻ những năm 20-30, chủ nghĩa xã hội là con đường đúng cả về lý trí lẫn tình cảm, không những giải phóng được dân tộc, mà còn đưa dân tộc tới ấm no hạnh phúc. 

Khát vọng giải phóng dân tộc làm cho những người thuộc thế hệ này tin vào con người vị tha, con người có thể vì người khác. Sự hỗ trợ và giúp đỡ “vô tư” của các nước “anh em” dường như đã tiếp thêm sức mạnh để Việt Nam quyết định đi theo con đường CNXH. Niềm tin trong sáng vào quốc tế cộng sản trong một thời kỳ là hiện hữu như tác giả Trần Việt Phương (2008) đã viết trong “Con đường vinh quang và khổ ải ’’: 

Suốt một thời gần nửa thế kỷ, đối với nhiều nước trong và ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, hai tấm gương ấy [Liên Xô và Trung Quốc], đặc biệt là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có sức hấp dẫn rất lớn. Đối với nước Việt Nam ta, hai tấm gương ấy có sức mạnh của một ý thức hệ được chấp nhận, có hào quang của những thành tựu đích thực (dẫu ngày nay đã đủ rõ để loại ra phần tô vẽ, thổi phồng), có tình nghĩa biết ơn một sự giúp đỡ rất quan trọng, có lòng chân thành thiếu từng trải về chủ nghĩa quốc tế vô sản, có sự dễ dàng tiếp thu của một nước đi sau ngưỡng mộ nước đi trước được tôn vinh là “thành trì của cách mạng thế giới”. 

Đặc trưng của CNXH thuần túy được thể hiện rất rõ trong Tuyên bố của các đảng Cộng sản và Lao động của các nước XHCN tại cuộc họp ngày 14-16/11/1957: i) sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà hạt nhân là đảng Marxist-Leninist, . thiết lập nền chuyên chính vô sản dưới hình thức này hay hình thức khác; ii) liên minh giai cấp giữa công nhân và quần chúng cơ bản trong nông dân và các tầng lớp lao động khác; iii) thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ sở hữu công cộng; iv) cải tạo nông nghiệp theo chủ nghĩa xã hội; v) phát triển kinh tế có kế hoạch; vi) thực hiện cách mạng tư tưởng văn hóa.

XHCN thuần túy là chế độ công hữu về TLSX. Tư hữu cần phải xóa bỏ. Đấu tranh giai cấp, xóa bỏ địa chủ và tư sản là một trong những trọng tâm. Đây là cơ sở để có cải cách đất đai ở đầu thập niên 1950 rồi sau đó là cải tạo công thương nghiệp và hợp tác hóa ở miền Bắc trong cuối thập niên 1950; và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam cuối thập nhiên 1970 (Nguyễn Khắc Viện 2007) .Tuy nhiên, giống như các nước XHCN khác, việc áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch và công hữu về TLSX đã thất bại. CNXH chưa thể thành công do chưa có con người XHCN. Trong những điều kiện đời sống thường ngày hầu hết mọi người chỉ vì mình chứ không vì người khác như giả định của học thuyết Marx và các luận điểm của Lenin. Lúc chiến tranh, đối diện với mất còn, nhiều người có thể phá nhà làm chiến lũy chống quân thù, nhưng lúc xây dựng CNXH thì ít ai muốn thiệt, cho dù chỉ nửa viên gạch. Đây là một lẽ rất tự nhiên từ thời cổ đại cho đến ngày nay chứ không phải chỉ ở các nước XHCN. 

Việt Nam đã đổi mới và tránh được sự đổ vỡ. Gần như ngay lập tức, phép màu đã xảy ra đối với kinh tế Việt Nam khi các cơ chế thị trường được công nhận và các cá nhân hay hộ gia đình được làm cho mình và được hưởng những thành quả do mình làm ra. Họ lại sẵn sàng một nắng hai sương chứ không phải uể oải làm việc để đợi tiếng kẻng của hợp tác xã hay của nông trường. 

II. THỰC TIỄN SINH ĐỘNG 

1. Sự lúng túng trong lựa chọn đường đi 

“Lịch sử kinh tế Việt Nam có một thời “rối như cạnh hẹ " - thời kỳ đó, kinh tế Việt Nam sa vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, cũng là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về lý luận và chính sách kinh tế. " là tổng kết của giáo sư Trần Phương khi viết lời bình trong lần tái bản năm 2009 tác phẩm “Tư duy Kinh tế Việt Nam 1975-1989 ” của cố giáo sư Đặng Phong. 

Có lẽ không nhiều người am hiểu về kinh tế Việt Nam kể từ khi Việt Nam độc lập đến nay như Gs. Trần Phương - người được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cử tham gia các lớp nghiên cứu kinh tế theo mô hình Liên Xô và tìm hiểu cả những trục trặc của nó từ thập niên 1960, giữ trọng trách Phó thủ tướng chính phủ trong giai đoạn 1982-1986, và đã nghiên cứu về kinh tế Việt Nam từ đó đến nay. Lời nhận xét chỉ cho giai đoạn 1975-1989, nhưng có lẽ cũng đúng nếu tính đến ngày nay. Dường như các chính sách kinh tế của Việt Nam từ năm 1975 đến nay vẫn chỉ là “xé rào” hay gỡ bí trong từng bối cảnh cụ thể. 

Trong “Tư duy Kinh tế Việt Nam 1975-1989”, cố giáo sư Đặng Phong đã cho thấy, dường như Việt Nam không có những luận thuyết cơ bản về con đường phát triển mà chủ yếu là rập khuôn từ những mô hình từ bên ngoài một cách không có hệ thống và không được nghiên cứu đầy đủ cho bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng kinh tế theo một quan niệm giản đơn về CNXH, được làm rập theo hình mẫu nước ngoài với một thái độ nôn nóng, chủ quan duy ý chí (Nguyễn Quang Thái và Lê Anh Sơn 1990). Cho dù đã có một số người nhận ra một số vấn đề hay trục trặc của mô hình XHCN mà Việt Nam đang áp dụng và có những tìm hiểu cách thức cải tiến ngay từ thập niên 1960 (Trần Việt Phương 2008) , nhưng trên thực tế, các lý luận trong giai đoạn này chủ yếu là thể hiện ý chí của lãnh đạo tối cao mà điển hình là Làm chủ tập thể của Tổng bí thư Lê Duẩn, người “chẳng bao giờ nghe ý kiến người khác” như Hồi ký của Trần Quỳnh được Đặng Phong trích lại. 

Do thực tế khác rất nhiều các lý luận chính thống nên các nghị quyết, chủ trương phù hợp chủ yếu là do cách thức sử dụng câu chữ để “lách” nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Khi học tập hay nghiên cứu các nghị quyết, mọi người chỉ tập trung vào những “điều mới” được viết rất khéo để tránh trái với quan điểm chính thống. Những câu chuyện về khoán ở Vĩnh Phúc, Hải Phòng (Thái Duy 2008), chạy gạo ở Tp.HCM hay bù giá vào lương ở Long An là những minh chứng cho quá trình phá rào; sai lầm của Giá - Lương - Tiền dẫn đến chống lạm phát và cải cách hệ thống ngân hàng sau này với vai trò của một số thành viên trong Nhóm Thứ Sáu và một số người khác... cũng chỉ là những giải pháp tình thế được đề xuất bởi những con người của thực tiễn hay áp lực buộc phải làm. 

Thiếu vắng một chủ thuyết phát triển rõ ràng và nhất quán cũng là thực tế trong hơn hai thập kỷ đổi mới ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ trong tac phẩm “Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và Suy ngẫm ” do Gs. Đào Xuân Sâm và Vũ Quốc Tuấn (2008) chủ biên với sự tham gia của nhiều tên tuổi khác như: Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương... Các bài viết chủ yếu tập trung tổng kết kinh nghiệm thực tiễn chứ dường như không đề cập nhiều đến các chủ thuyết phát triển. 

Khi “Sự thần kỳ Đông Á” (World Bank 1994) đang nổi lên với mô hình Đàn Sếu Bay của Kaname Akamatsu (Kiyoshi Kojima 2000) và Đặng Tiểu Bình Nam du để quyết định một làn sóng đổi mới cho Trung Quốc (Ezra Vogel 2011) thì cũng là lúc Việt Nam đưa ra mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giống như Nhật thời Thiên Hoàng Minh Trị hay Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình, những chuyến công du nước ngoài của các nhà lãnh đạo hay những người tham gia vào quá trình hoạch định chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các chính sách kinh tế mới ở Việt Nam, nhất là ở đầu thập niên 1990. 

Những định hướng hay chính sách lớn được áp dụng thực tế của Việt Nam trong hơn 20 năm qua dường như chỉ là qua những tham khảo hay nghiên cứu tình huống. Ví dụ, sự hình thành các đại học quốc gia dường như được lấy từ mô hình của Singapore; các tổng công ty mà giờ đây là các tập đoàn kinh tế được lấy từ mô hình Chaebol của Hàn Quốc; các khu chế xuất, khu công nghiệp được lấy từ Đài Loan và nhiều ví dụ khác. Tuy nhiên, những điểm khác biệt cơ bản giữa tình hình ở Việt Nam và các nước khác dường như chưa được tìm hiểu thấu đáo. Ví dụ, tính chất sở hữu tư nhân của các Chaebol ở Hàn Quốc tạo ta những động cơ và cách thức làm việc hoàn toàn khác so với sở hữu tập thể ở các DNNN của Việt Nam. 

Việc ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương hay gia nhập WTO có lẽ là theo xu hướng của thời đại từ ý tưởng hay nhìn nhận của những người tham gia vào những vấn đề cụ thể hơn là một đường hướng nhất quán. Sự ra đời và tính cấp tiến của Luật doanh nghiệp năm 2000 có lẽ cũng thuộc lý do này. Thảo luận về chủ thuyết phát triển đi liền với một số chính sách rất cấp tiến nêu trên đã được manh nha từ cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, nhưng đã bẵng đi một thời gian. Những thảo luận về mô hình tăng trưởng trong thời gian gần đây phần nhiều là các giải pháp cụ thể chứ chưa có những thảo luận sinh động về chủ thuyết hay triết lý phát triển của Việt Nam trong khi mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn chưa có lời giải thỏa đáng. 

Bối cảnh chuyển đổi từ mô hình kinh tế XHCN thuần túy sang chấp nhận và vận dụng các quy luật thị trường với nòng cốt là chế độ tư hữu về TLSX ở Việt Nam vào cuối thập niên 1980 là hết sức đặc biệt (xem Đảng Cộng sản Việt Nam 2006a). Kể từ đó, cho dù chấp nhận các quy luật thị trường, nhưng các nguyên lý của Marx và Lenin vẫn được xem là chủ thuyết phát triển chính ở Việt Nam. Đây là cơ sở để khái niệm “Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ”, ở Khóa VI; trở thành “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN”, ở Khóa VII; và thành “Kinh tế thị trường định hướng XHCN" ở Đại hội IX năm 2001 (Xây dựng Đảng 2013). Khái niệm này đã được làm rõ thêm tại Đại hội X năm 2006 với một trong những luận giải chính là: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. ” 

Tags:

KHẨU KHÍ HAI VỊ BỘ TRƯỞNG

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
4 nhận xét



Kính Chiếu Yêu
Tổng Tư lệnh của ngành giao thông vận tải (GTVT) - Bộ trưởng Đinh La Thăng đã nói gì trong cuộc họp bàn nâng cao năng lực và chất lượng vận tải đối với đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không, hôm qua 18/4.

Trong cuộc họp kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ, 5/7 Thứ trưởng của Bộ GTVT dự họp đã có những ý kiến thẳng thắn về năng lực và chất lượng của từng ngành vận tải cũng như sự quá tải nghiêm trọng của đường bộ đang cần khẩn trương tháo gỡ bằng chính các phương thức kết nối, điều tiết các loại hình vận tải.

Lãnh đạo các ngành đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không đều lần lượt báo cáo tình hình và cho biết năng lực vận tải của ngành mình là dư thừa, sẵn sàng chia tải với đường bộ. 

Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cho rằng đã đến lúc các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải phải ngồi lại với nhau để bàn bạc và đưa ra các phương án chia tải tối ưu nhất. Tuy nhiên, Bộ trưởng Đinh La Thăng khẳng định các tư tưởng lớn phải ngồi lại với nhau chứ "doanh nghiệp lớn mà tư tưởng nhỏ thì giải quyết cái gì?".

Bộ trưởng Đinh La Thăng đã nhấn mạnh, bằng mọi cách phải kết nối được các phương thức vận tải để giảm tải cho đường bộ, Bộ GTVT sẽ kiên định kiểm soát trọng tải xe nhằm mục đích đưa giá cước vận tải về đúng vị trí của nó, để người dân được hưởng dịch vụ tốt hơn, để bảo vệ hạ tầng giao thông, chống tiêu cực và làm lành mạnh thị trường vận tải Việt Nam.

Ngay tại cuộc họp, Bộ trưởng Đinh La Thăng giao các Thứ trưởng phụ trách các lĩnh vực phải khẩn trương làm việc, chấn chỉnh những hạn chế tồn tại và nâng cao năng lực vận tải bằng những giải pháp hữu hiệu nhất. Rà soát lại thực trạng kết nối vận tải hiện nay để đưa ra cách giải quyết tốt nhất. Từng lĩnh vực, từng đơn vị vận tải phải tăng năng lực, cải cách thủ tục hành chính, chống tiêu cực thì khách hàng vận tải mới tìm đến với mình.

Và ông cảnh báo “Phải tổ chức lại vận tải cho khoa học để giảm chi phí nhưng phải đảm bảo khai thác tốt hơn, hiệu quả cao hơn… Đây cũng là căn cứ để bình xét đánh giá có hoàn thành nhiệm vụ hay không vào cuối năm. Trong năm nay, nếu hoạt động vận tải không chuyển biến, không tích cực hơn thì các Thứ trưởng cũng không thể được bình xét xếp loại là hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đừng để như những năm trước, đọc con số 97,5% hoàn thành xuất sắc và tốt nhiệm vụ mà xấu hổ, vì ngành GTVT mà đạt được con số đó thì là nhất nước, thậm chí là nhất thế giới”.

Còn ông Bộ trưởng GD-ĐT thì nhẫn nhịn xin chịu trách nhiệm về sai sót con số 34.000 tỷ đồng! Và xem ra vẫn mù mờ về hướng đi cho cải cách giáo dục.

Ông nói, nếu cần phải có đến 34.000 tỷ đồng chỉ để biên soạn chương trình SGK mới thì tôi cũng không đồng tình, cũng là lãng phí, phi lý. Và ông thanh minh, con số 34.000 tỷ không có trong Tờ trình và những hồ sơ liên quan mà Chính phủ trình sang Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà được tổng hợp từ kết quả nghiên cứu của nhiều nhóm chuyên gia khác nhau. Trong con số 34.000 tỷ đồng này, các nhóm chuyên gia đề xuất không chỉ biên soạn SGK mà còn bao gồm đào tạo lại đội ngũ giáo viên, mua sắm trang thiết bị và nhiều công việc khác. Riêng về biên soạn SGK, nhóm chuyên gia đề xuất trên 100 tỷ đồng.

Khi bị chất vấn,100 tỷ đồng và 34.000 tỷ đồng là hai con số khác xa nhau rất nhiều và Bộ trưởng có nói đây là ước tính của các nhóm chuyên gia. Vậy tại sao chính đại diện của Bộ GD-ĐT lại nhắc đi, nhắc lại con số này trong cuộc họp của UBVTQH và cuộc họp báo thường kỳ của Bộ?

Ông lại đổ cho "cậu đánh máy" "Đây là một sai sót đáng tiếc. Vào những ngày UBTVQH tổ chức cuộc giải trình này, tôi phải đi công tác nước ngoài trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục các nước ASEAN nên không thể tham gia trực tiếp. Tại phiên giải trình này, khi đại diện của Bộ trình bày Tờ trình thì không có nội dung về tiền nong. Con số 34.000 tỷ đồng được nêu lên khi trả lời câu hỏi của các Ủy viên UBTVQH. Để xảy ra sai sót thì trách nhiệm thuộc vê Bộ GD-ĐT và chúng tôi xin nhận trách nhiệm này"

Không lẽ trước khi trình UBTVQH, Bộ chỉ huy của Bộ GDĐT chưa họp hành bàn bạc gì, vị Bộ trưởng trước khi đi nước ngoài cũng không cho ý kiến gì với người đại diện thay mặt mình báo cáo UBTVQH? Dẫu là con số được tổng hợp từ nhiều nhóm chuyên gia thì cũng phải được bảo vệ bằng các luận chứng, luận cứ cụ thể chứ sao lại nói vu vơ vậy?

Tags:

XUNG QUANH CHUYỆN BẦU KIÊN BỊ XÍCH CHÂN TẠI TÒA ÁN

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Chủ Nhật, ngày 20 tháng 4 năm 2014 10 nhận xét

Chiềng Chạ

Một điều chúng ta rất dễ nhận biết là từ lúc bị bắt giam và tới lúc được đưa ra xét xử thì ông Kiên không ngừng cho rằng mình bị bắt oan và lên tiếng yêu cầu các cơ quan Tố tụng trả tự do cho chính mình. Không ít lần ông Kiên đã thể hiện sự bực tức trước những quy định của Trại tạm giam vì những điều kiện sống mà ông đang phải tiếp nhận. Và trên thực tế, chế độ ăn uống và nghỉ ngơi trong tù không thể làm hài lòng một đại gia từng có cuộc sống vương giả và xa hoa như ông. Sự bực tức của ông còn đi liền với những tuyên bố, những tiếng chửi thề mà đối tượng tiếp nhận không ai ngoài những cán bộ Trại tạm giam và cơ quan Tòa án trong quá trình làm việc với ông Kiên. 


Để công kích những chính sách của Nhà nước Việt Nam, những người mà chúng ta vẫn quen gọi là "những nhà bất đồng chính kiến" tại Việt Nam luôn cố trình bày cho được cố tật mà theo họ nếu được phơi bày thì hình ảnh và uy tín của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam sẽ dần lụn bại. Trong đó, người ta cố nhấn mạnh đến vấn nạn tham nhũng và những cố gắng, nỗ lực và thái độ của Nhà nước trong ứng xử với quốc nạn này. 

Nhìn những gì đang diễn ra trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những quan tham, những đối tượng sử dụng các thủ đoạn lừa đảo kinh tế để chiếm đoạt những khoản tiền công quỹ, ngân quỹ quốc gia. Việc phát lộ những câu chuyện bên trong những ông quan đã được nhìn nhận như những cố gắng của Nhà nước và cũng nói thay thái độ của Nhà nước trong vấn nạn này. Sau vụ án của siêu lừa Huyền Như, đến lượt hai quan chức cộm cán của Ngành Ngân hàng lần lượt bị bắt và sẽ hầu tòa vì những sai phạm của mình là ông Trần Xuân Giá và Nguyễn Đức Kiên. Đáng chú ý là phiên tòa xét xử hai vị quan này đã bị tạm hoãn khi ông Trần Xuân Giá đang gặp vấn đề về sức khỏe. 
Việc bị xích chân trong quá trình Tòa án xét xử là hệ quả tất yếu, phù hợp với Pháp luật mà ông Nguyễn Đức Kiên phải lãnh nhận. 
Tuy nhiên, một điều hết sức lạ lùng và khó hiểu là lẽ ra đứng trước những thông tin về hai con người cụ thể, những con sâu đại bự phải ra hầu tòa thì những kẻ như Lê Thị Công Nhân phải vui; nếu có phát ngôn thì cũng lên tiếng ủng hộ những động thái của cơ quan Nhà nước và xem đó như là một thành công mà bản thân mình đã góp phần làm nên. Song, Lê Thị Công Nhân lại làm điều ngược lại. Ả đàn bà từng phạm vào tội Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam lại có những động thái bênh vực ông Nguyễn Đức Kiên với những điều cụ thể được trích ra từ các văn bản luật. Theo đó, Lê Thị Công Nhân cho rằng: "ông Nguyễn Đức Kiên (tức Bầu Kiên) đã bị 'xúc phạm nhân phẩm' và 'bị khủng bố tình thần' khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vừa còng tay, vừa xích chân khi áp giải ở phiên tòa sơ thẩm xét xử ông và một số bị cáo khác ở Ngân hàng ACB hôm 16/4/2014". Đồng thời nhấn mạnh "ông Kiên và luật sư của ông có quyền khiếu nại với các cơ quan công quyền chấm dứt hình thức áp giải này". 


Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với một bị cáo tại Tòa án là một hình thức mang tính cưỡng chế được Tòa án và cơ quan tạm giam thống nhất áp dụng đối với từng bị cáo cụ thể. Và tất nhiên, hình thức được áp dụng ấy là hệ quả của việc đánh giá và nhìn nhận tính chất nguy hiểm, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Theo đó, hình thức "xích chân" là mạnh nhất trong chuỗi các biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng với các bị cáo tại Tòa án và hình thức này được áp dụng đối với ông Nguyễn Đức Kiên - bị cáo trong vụ án vừa bị hoãn tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội.

Trên thực tế, đây là điều có vẻ như vô lý bởi hình thức xích chân chỉ áp dụng đối với "trường hợp mà tính chất là côn đồ và manh động nó thể hiện rất là rõ rệt, từ bản chất của vụ án của bị can liên quan, cũng như là tính cách của bị can đó trong suốt quá trình người ta giam giữ, thì cảnh sát người ta được phép làm việc đó" như Lê Thị Công Nhân nói. Hình thức này lại được áp dụng với ông Kiên - một bị can trong một đại án kinh tế, bản thân ông Kiên cũng chưa từng được báo giới nói đến những tiền án, tiền sự liên quan đến những hành vi kiểu côn đồ, manh động. Theo đó, việc áp dụng hình thức này đối với ông Kiên sẽ có phần nặng nề và mang tính ngược đãi và đó có thể tạo nên những sức ép tinh thần ghê gớm cho chính bị can, công luận. Tuy nhiên, nếu ai tinh ý thì sẽ không khó nhận ra một điều mà Lê Thị Công Nhân nói ở vế sau  của đoạn nói trên: ...."từ bản chất của vụ án của bị can liên quan, cũng như là tính cách của bị can đó trong suốt quá trình người ta giam giữ, thì cảnh sát người ta được phép làm việc đó". Và như vậy, việc áp dụng hình thức ngăn chặn "xích chân" đối với một bị can không phải xuất phát từ những hành vi họ đã thực hiện trong quá khứ. Nó có thể là hệ quả trực tiếp từ những hành vi trong quá trình giam giữ chờ xét xử. Về điều này thì chưa ai dám khẳng định Nguyễn Đức Kiên không có những hành vi tới mức mà Tòa án và cơ quan giam giữ ông Kiên phải quyết định biện pháp ngăn chặn cao nhất. 


Một điều chúng ta rất dễ nhận biết là từ lúc bị bắt giam và tới lúc được đưa ra xét xử thì ông Kiên không ngừng cho rằng mình bị bắt oan và lên tiếng yêu cầu các cơ quan Tố tụng trả tự do cho chính mình. Không ít lần ông Kiên đã thể hiện sự bực tức trước những quy định của Trại tạm giam vì những điều kiện sống mà ông đang phải tiếp nhận. Và trên thực tế, chế độ ăn uống và nghỉ ngơi trong tù không thể làm hài lòng một đại gia từng có cuộc sống vương giả và xa hoa như ông. Sự bực tức của ông còn đi liền với những tuyên bố, những tiếng chửi thể mà đối tượng tiếp nhận không ai ngoài những cán bộ Trại tạm giam và cơ quan Tòa án trong quá trình làm việc với ông Kiên. 

Với một kẻ đã quen với việc sai khiến và chỉ đạo người khác thì hoàn cảnh trong Trại tạm giam thực sự là một cực hình mà đến mơ ông cũng chưa bao giờ nghĩ đến. Cho nên, nếu nói rằng, những hành vi mang tính "côn đồ", "manh động" của ông Kiên xuất phát từ những sự đối lập về không gian và hoàn cảnh sống thì việc áp dụng hình thức ngăn chặn để đề phòng những tình huống xấu có thể xảy ra cũng là điều hết sức cần thiết và bình thường. Bởi, không ai có thể biết một kẻ tính tự trọng và đề cao giá trị bản thân như ông Kiên sẽ làm điều gì tại Tòa. Đặc biệt, trong lúc nóng nảy và bực tức nhất ông này có thể xúc phạm sự tôn nghiêm của Nhà nước, chế độ bằng những hành động thiếu kiềm chế đối với vành móng ngựa. 

Lê Thị Công Nhân chỉ giỏi phỏng đoán qua hình ảnh. 
Có một điều mà chúng ta không thể không lưu ý, trong một clip chính thức ghi âm và tường thuật lời ông Kiên nói với những người thân khi nhận được lời động viên: “Yên tâm, yên tâm! Không sao đâu! Cả nhà cứ yên tâm đi, nhá!". Có người cho đây là sự lạc quan hiếm thấy của một bị cáo trong một đại án kinh tế; tuy nhiên, với tôi những câu trả lời "lạc quan" ấy nói lên nhiều thứ hơn thế. ông Kiên dường như chưa tin vào những gì mà Tòa án, Viện Kiểm sát và Cơ quan Công an cáo buộc trong vụ án mà ông là nhân vật chính. Sự thay đổi cảnh ngộ có phần chóng vánh đã khiến ông choáng váng và khó chấp nhận thực tế phũ phàng ấy. Ông nói với những người thân mà như thể ông đang chịu những oan khuất mà thời gian sẽ cho câu trả lời chính xác nhất. Đó cũng là điều để nói rằng, việc ông Kiên sẽ manh động, vượt quá những hành vi thông thường là điều có thể được thực hiện. 

Cho nên, đừng vội quy kết việc áp dụng biện pháp ngăn chặn vừa qua là tiêu cực, ngược đãi hay những ý nghĩa kiểu đó là đòn ngăn chặn tinh thần, hạ gục ý chí tuyên mình vô tội của ông Kiên. Và cũng đừng cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cao nhất này đồng nghĩa với mục đích là "để khủng bố tinh thần, đe dọa ông ấy và đặc biệt về mặt nhân đạo, về mặt phẩm giá con người, tức là để cho đương sự cảm thấy rằng mình bị sỉ nhục, mình bị hạ thấp và bị mất hoàn toàn tất cả những hình ảnh và phẩm giá của mình". 

Cũng nói thêm rằng, một bị cáo hay một tù nhân đều phải sống và lao động, cải tạo theo quy định của Trại giam nơi mình bị giam giữ. Việc mặc gì, đi gì hay ăn uống, nghỉ ngơi thế nào là quy định của Trại giam và bắt buộc thực hiện đối với mọi đối tượng. Việc ông Kiên đi dép tổ ong hay đi gì đi nữa cũng là quy định của trại giam và không thể nói rằng, ông Kiên là trường hợp ngoại lệ. Và thử hỏi rằng, nếu ông Kiên được đặc cách và đối xử khác thì đấy mới là điều chúng ta cần lên án cho cái gọi là nhân quyền. Lê Thị Công Nhân cũng không nên vội vàng áp đặt những thứ mà mình chưa trải qua hay võ đoán. Việc áp đặt và đánh giá sự việc chỉ qua hình ảnh như trên có thể xem là một sự vu khống, bịa đặt nhằm làm giảm lòng tin và gây hoang mang cho công luận./.

Tags:
 
Mõ Làng © 2013 | Designed by tai game mien phi