HÃY CHỜ XEM, KỊCH HAY ĐANG CHỜ Ở PHÍA TRƯỚC

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014 0 nhận xét

Chiềng Chạ
Đã lâu lắm rồi mới xuất hiện một thông tin liên quan thiết thân đến Nguyễn Hữu Vinh (Chủ trang Ba Sàm đã bị bắt và hiện đang được cơ quan Điều tra làm rõ). Lâu nay người ta chỉ nói đến Vinh nhưng có chăng đó cũng chỉ là những kêu la, phản hồi lên tiếng của những người bạn của Vinh tại Mỹ và gần đây nhất là việc lá thư của Vợ Vinh (chị Lê Thị Minh Hà) gửi lên các cơ quan Trung ương để khiếu nại về trường hợp của chồng mình. Và mặc dù những tiếng nói đó không phải không thu hút công chúng nhưng ít nhiều nó chưa trả lời được những câu hỏi mà dư luận bấy lâu đang rất quan tâm, kiểu như Cơ quan Điều tra đã xác định được bao nhiêu phần trăm tội danh của Vinh, thời điểm để Vinh hầu tòa và đặc biệt là với những gì đã làm thì tội danh của Vinh có thể là bao nhiều năm?
Cơn khát thông tin về Vinh không phải bởi người ta thấy thiếu vắng khi Vinh bị bắt mà đơn thuần người ta quan tâm hơn đến thân phận của một người từng được gọi là "Cậu ấm", là thế hệ sau của một khai quốc công thần của chế độ mới nhưng đã đánh mất mình. Điều này cũng là một nguyên nhân chính là những chuyên làm công việc đưa tin luôn thủ sẵn thủ thuật và họ chỉ cần chớp được thông tin thì một câu chuyền về Vinh sẽ ra đời. Nó sẽ giải tỏa nhiều điều như tình cảnh hiện tại của Vinh trong tù...và lẽ ra khi chưa có những thông tin kiểu ấy thì những người cầm bút nên chăng nên im lặng và chờ đợi nhưng họ tiên liệu những điều chỉ bằng những "nguyên liệu" là trí tưởng tượng, những câu chuyện viễn tưởng. 

Bợ đỡ vào bức "tâm thư" của chị Lê Thị Minh Hà (vợ Vinh) một số người đã vẽ ra viễn cảnh Nguyễn Hữu Vinh sắp được thả tù. Bức thư của Chị Hà đã được gửi đến những chủ thể trong thư, được đăng tải rộng rãi trên trang cá nhân của các cá nhân trong, ngoài nước nhưng cho đến nay chưa có một cơ quan, cá nhân liên quan phản hồi về những kiến nghị của chị Hà. Điều đó cho thấy, không nên đánh giá quá cao những tác động và hiệu quả đem lại từ bức thư nói trên. Việc bắt và điều tra của Vinh đang được các cơ quan liên quan thực hiện và cho đến nay thời hạn điều tra còn rất nhiều nên việc khiếu nại về những gì cơ quan điều tra đang thực hiện là vô hiệu. Bản thân Chị Hà cũng là một cán bộ Công an đang công tác, chị cũng hiểu rõ ràng bức thư không có tác động nhiều để cải thiện tình cảnh hiện tại của chồng chị; có chăng nó chỉ dừng lại là một biểu hiện về tình vợ chồng giữa chị và Vinh. 

Bức thư của Chị Hà như một "cái cây" để những suy luận viển vông, thiếu căn cứ bấu víu và hình thành. Sau những màn khai mở có vẻ hợp logic và có vẻ như đúng thời điểm ấy, người ta đua nhau bàn luận, nói về những khả năng có thể trắng án, thoát tội của Vinh. Họ cho rằng, với thân phận là một người từng công tác và có cấp bậc hàm là "Trung tá Công an" thì chuyện cơ quan Công an dở những món nghiệp vụ để gọi hỏi, buộc Vinh phải khai báo là chuyện không tưởng. Những gì đã có khiến Vinh thừa có thể đối phó với những "bài nghiệp vụ" ấy. 

Chưa hết, người ta còn nói nhiều đến người Cha của Vinh (ông Nguyễn Hữu Khiếu) khi cho rằng, vốn sinh ra trong một gia đình danh giá, có truyền thống cách mạng, bản thân Vinh thuộc vào hàng "Thái tử đỏ" của chế độ đương thời nên việc áp dụng các bản án với Vinh sẽ được nhiều người can thiệp và tác động. Đây cũng là một nguyên nhân họ biện hộ việc Vinh hoạt động một thời gian tương đối lâu mới bị bắt. Và cũng từ đây, người ta nói nhiều đến vai trò của Vinh trong nước cờ chính trị của những nhóm lợi ích trong bộ máy Đảng, Nhà nước đương thời. Rồi cả những luận suy cho rằng, Chính giới và các cơ quan Ngoại giao bên ngoài (Mỹ, Phương Tây) sẽ có những động thái can thiệp để Vinh có được một bản án hoặc nếu thuận lợi sẽ được phóng thích. Nếu không có gì thay đổi thì một viễn cảnh từng xảy ra với Cù Huy Hà Vũ cũng sẽ lặp lại với Vinh. 

Nói ra những điều này, rõ ràng, họ đang đuối lí và họ cũng thiếu những căn cứ để có biện hộ, nói lên những gì họ đã đưa ra. Phải chăng, Vinh quan trọng đến thế và những mớ ràng buộc nhập nhằng trong quan hệ với các cá nhân, tổ chức trong, ngoài nước sẽ là một nhân tố cứu Vinh khỏi những đọa đày của chốn lao tù. Và khi những giả định, những luận suy ấy tưởng chừng không có hồi kết và người ta vẫn đua nhau nói thì những tiếng nói phản biện từ chính ông Hà Huy Sơn, Luật sư bào chữa của Vinh lại nói thay và gián tiếp đưa ra những tin đủ giải tỏa những hoài nghi hiện hành. 

Theo BBC Tiếng Việt: "Luật sư bào chữa cho blogger Nguyễn Hữu Vinh (tức Ba Sàm), nói thông tin về việc ông sắp được trả tự do là "chưa có cơ sở". Tuần này tôi vẫn tiếp tục làm việc với điều tra viên, chưa có thông tin chính thức gì cả, ông nói. "Chưa có dấu hiệu gì là tạm đình chỉ vụ án, chưa có dấu hiệu thả đâu".Ông Sơn cũng cho biết ông "không có nhiều hy vọng" rằng thân chủ sẽ sớm được trả tự do".

Với tôi và nhiều người thì thông tin trên không hề mới bởi theo một suy lí thông thường thì chính những cơ quan thực thi pháp luật đã có những tính toán nhất định khi bắt một "con cá lớn" như Vinh'; Việc bắt Vinh và sau đó thả sẽ gây nên không ít những dư luận trái chiều. Có thể so sánh việc bắt Vinh như một canh bạc và điểm khác biệt chính là canh bạc ấy được tính toán. Vì vậy, với một quãng thời gian chưa đủ dài để nói lên những điều Vinh đã từng làm và cũng chưa đủ để khẳng định rằng cơ quan điều tra đã bất lực trước Vinh. Thời gian tiếp theo mới là chứng minh số phận trong những năm tới của Vinh. 
Hãy chờ xem, kịch hay đang chờ ở phía trước./.

Tags:

NHẬT NỐI LẠI VỐN ODA CHO VIỆT NAM: KHI QUAN HỆ VIỆT - NHẬT ĐƯỢC NÂNG LÊN TẦM ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014 8 nhận xét

Chiềng Chạ
"Nhật nối lại ODA cho Việt Nam". Đây là một tin vui đối với ngành Giao thông vận tại nói chung và các dự án đường sắt của Việt Nam nói riêng. Nếu ai quan tâm chắc đã chứng kiến phần nào những ảm đạm của các dự án đường sắt ngay sau khi Nhật Bản tạm ngừng viện phát triển (ODA) cho Việt Nam vì cáo buộc hối lộ, cho nên thông tin nói trên được đăng tải trên kênh truyền hình Quốc gia Nhật Bản không khác mấy việc một người chết đuối gặp được phao cứu sinh; nó cũng cho thấy, việc nghi vấn cáo buộc liên quan tham nhũng liên quan các dự án đường sắt chưa bao giờ nặng nề như báo chí nước ngoài đưa tin. 
Nhiều dự án đường sắt ở Việt Nam sử dụng vốn ODA từ Nhật
Rõ ràng, không ai có quyền biện minh cho vấn nạn tham nhũng bởi đó là một trong những nguyên nhân chính làm xói mòn lòng tin từ người dân vào chế độ, một kẻ thù hạ gục chính chế độ ở bên trong. Dù không nói nhưng hơn ai hết những người dân muốn những cáo buộc liên quan được làm rõ, những cá nhân liên quan phải được đưa ra ánh sáng và chịu những hình phạt đích đáng nhất. Nhưng khi mà những điều đó chưa được thực thi thì nên chăng điều chúng ta có thể tin tưởng chính là động thái của người Nhật sau khi có những cáo buộc vừa qua. 

Nhiều người cho rằng, việc người Nhật nối lại viện trợ phát triển ODA cho Việt Nam nằm trong động thái thiết lập một liên minh trên Biển trong việc đối phó với sự bành trướng của TQ trong khu vực; là cái cách mà người Nhật tiến hành đổi chác để có những lợi ích trước mắt. Tuy nhiên, đồng ý với nhận định này thì e là đã đánh giá quá thấp người Nhật (một quốc gia nổi tiếng với tinh thần tự cường, tự lực) trong thực hiện một hoạt động mang tính thương mại - kinh tế nhiều hơn là chứa động cơ chính trị. 

Nhật là một nước tư bản và việc vận hành nguồn vốn dưới bất cứ hình thức nào thì cũng đặt vấn đề lợi nhuận lên hàng đầu. Sự rạch ròi trong vấn đề kinh tế, thương mại và hoạt động chính trị là điều rõ nét, là một trong những nhân tố chính phân biệt chính sách ngoại giao của Nhật với quốc gia láng giềng Trung Quốc. Việc người Nhật nối lại các hoạt động thường niên liên quan đến quỹ vốn ODA khi mà những nghi vấn, cáo buộc vẫn chưa được làm rõ cho thấy đó không đơn thuần là chuyện bỏ qua lợi ích cho nhau bởi nếu thực hiện theo những điều luận suy trên chính người Nhật chứ không phải ai khác sẽ chịu những tổn thất trực tiếp từ hoạt động này. Người Nhật đang đặt niềm tin ở chính những dự án của người Việt, nhất là việc sử dụng nguồn vốn vào mục đích hỗ trợ và đầu tư cho các dự án giao thông vận tải. 

Với những gì đã qua, Việt Nam đã chứng minh được phần nào tính hiệu quả cũng như hệ số an toàn mà các dự án nay đem lại. Những nghi vấn cao buộc tham nhũng vừa qua của nhà chức trách Nhật Bản đối với một số quan chức ngành giao thông vận tải hai nước có thể là một phép thử cho chính niềm tin của họ. Sự nghiêm túc trong thực thi các dự án và sự nghiêm minh trong đối xử với những cáo buộc cho thấy Việt Nam chưa bao giờ hời hợt trong làm ăn với đối tác Nhật. Cho nên, việc nghĩ rằng, người Nhật sẽ thay đổi quan niệm khi phát hiện ra các cáo buộc là hoàn toàn sai lầm và thậm chí những cáo buộc trên được làm rõ thì không ảnh hưởng nhiều đến những niềm tin đã được thiết lập. Nên chăng xem những gì đã qua là một ví dụ cho thấy quan hệ Việt - Nhật đang có những dấu hiệu tốt nhất từ trước đến nay và đây cũng là một hệ quả trực tiếp từ sau khi hai nước thiết lập quan hệ tầm đối tác chiến lược./.

Tags:

BÀI HỌC UY LỰC VŨ KHÍ SAU 30 NĂM CUỘC CHIẾN TRÊN QUẦN ĐẢO MANVINAT

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
1 nhận xét

Mõ Làng: 
Với sự hiếu chiến của Trung Quốc, nguy cơ diễn ra một cuộc chiến cục bộ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rất lớn. Vì vậy hãy đọc lại lịch sử để chuẩn bị cho nay mai là không thừa. Bài học uy lực vũ khí trong cuộc chiến Manvinat cho thấy sự lợi hại của tên lửa “Cá bay-AM39”. Ngày nay, chúng ta có tên lửa đất đối hạm P-35B đạt tầm bắn xa nhất đến 460km, tốc độ hành trình siêu âm Mach 1,4. Với tầm bắn đó, P-35B không cần phải nương nhờ máy bay tiêm kích nữa mà vẫn bao trọn Hoàng Sa, Trường Sa.

















                        Tên lửa P-35B có tầm bắn 460km

Quần đảo Manvinat nằm ở nam Đại Tây Dương, cách Achentina 500 km, cách Anh 13.000 km, gồm 2 đảo lớn và khoảng 346 đảo nhỏ, tổng diện tích 11 800 km2, dân số hơn 2000 người.

Tranh chấp chủ quyền quần đảo Manvinat giữa Anh và Ahentina đã có từ lâu. Achentina cho rằng năm 1520, Gomes trong đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha do Magellan đứng đầu là người phát hiện sớm nhất. Năm 1770, người Tây Ban Nha chiếm quần đảo này, gọi là đảo “Malvinas- Manvinat”. Năm 1816, Achentina tuyên bố độc lập từ Tây Ban Nha và tuyên bố kế thừa chủ quyền toàn bộ với quần đảo Manvinat, đặt quần đảo là tỉnh thứ 24 của Achentina. 

Người Anh thì cho rằng nhà hàng hải Anh- Davis điều khiển con tàu mang tên “Hi vọng” phát hiện ra Manvinat ngày 14/8/1592. Năm 1690, người Anh John Manchester khi đến Manvinat đã phát hiện giữa hai đảo lớn phía đông và phía tây có một eo biển, và ông gọi là “Eo biển Falkand”, từ đó người Anh gọi quần đảo này là Falkand (Phoóc-len). Người Anh lấy lí do là có người đầu tiên phát hiện ra Manvinat, nên năm 1832 đã đưa quân ra chiếm đảo. Để thực thi chủ quyền, người Anh đã thiết lập cơ cấu chính quyền Phủ Tổng đốc, thực hiện di dân Anh lên đảo và xua đuổi toàn bộ dân bản xứ khỏi quần đảo mà họ chiếm đóng, kể từ đó, coi Manvinat là thuộc địa của Anh. Achentina từ đó không ngừng đưa ra yêu sách chủ quyền với quần đảo Manvinat. 

Năm 1958 hai nước đưa vấn đề tranh chấp lãnh thổ ra Liên Hợp Quốc. Tổ chức này đã 4 lần thông qua nghị quyết yêu cầu hai nước dùng phương thức đàm phán để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, nhưng không đạt được kết quả gì dù là nhỏ nhất. Ngày 20/2/1982, đàm phán giữa 2 nước tái thực hiện. Trong lần này, phía Achentina đã không còn sức nhẫn nại, không còn có hi vọng gì vào đàm phán và họ quyết định dùng vũ lực để thu hồi Manvinat, vì thế cuộc chiến tranh giữa 2 nước đã bùng nổ.

Ngày 18/3/1982, một số người Achentina vượt qua sự kháng cự của quân Anh, đổ bộ lên đảo, cắm cờ Achentina trên đảo. Đồng thời điều 2 tàu hộ tống tên lửa tiến vào đảo. Sáng 2/4, 5000 lính Achentina đổ bộ lên đảo, chỉ sau mấy tiếng đồng hồ chống đối yếu ớt, quân Anh tuyên bố đầu hàng, toàn bộ quân Anh bị đưa lên 1 tàu chiến và bị chở sang Urugoay để về nước. Chính phủ Achentina ra thông báo toàn quốc, đã thu hồi quần đảo Manvinat. Tổng thống Achentina - Galtieri thì cho rằng: "Nằm mơ cũng không thể có chuyện bà Thatcher chỉ vì 1 quần đảo hoang xa xôi, lại phái một đội quân khổng lồ vượt qua chặng đường hàng vạn km trên Đai Tây Dương để đến Manvinat”

Anh lập tức điều 2 tàu chiến và 1 tàu ngầm tiến vào vùng biển Manvinat, Thủ tướng Thatcher gửi thư cho tổng thống Ri- Gân yêu cầu Mỹ ủng hộ. Ngày 3/4, Hạ viện Anh họp khẩn cấp, có nghị sĩ đã phát biếu “thà bị mất đi 5 Bắc Ai-len để giữ lại 1 Manvinat”. Anh thành lập Nội các thời chiến, quyết định huy động 2/3 tổng lực lượng hải quân tham chiến. Bà Thatcher tuyên bố: "Manvinat đã trở thành sinh mạng của tôi, là máu của tôi”.

So sánh lực lượng tham chiến của 2 bên như sau: Quân Anh có 111 tàu chiến, 28 máy bay Harrier hải quân, 13 máy bay Harier không quân, 9.000 thủy quân lục chiến, 2 tàu sân bay "Vô địch”“Cạnh tranh tinh thần”, 2 tàu ngầm hạt nhân, tạo thành hạm đội hỗn hợp. Theo Anh thì đây là hạm đội mạnh nhất thế giới chỉ đứng sau Mỹ và Liên Xô. 

Quân Achentina có: 34 tàu chiến, 223 máy bay chiến đấu- đây gần như là toàn bộ lực lượng không quân của nước này, 1 lữ đoàn hải quân lục chiến, 3 lữ đoàn bộ binh, cộng 15.000 quân. 

Đến ngày 30/4, hạm đội hỗn hợp của Anh đã hoàn thành việc bố trí phong tỏa vùng biển, vùng trời trong phạm vi 200 hải lí quanh Manvinat và tuyên bố từ 11 giờ 3o/4, cấm tất cả tàu thuyền, máy bay của các nước đi vào vùng cấm bay trên. Ngày 15/4, một máy bay ném bom chiến lược “Thần lửa” ném 2 quả bom 1000 bảng Anh và máy bay từ tàu sân bay cũng ném bom ồ ạt vào trận địa trên đảo của quân Achentina. Ngày 2/5, tàu ngầm hạt nhân “Người chinh phục” đã bắn chìm tuần dương hạm “Tướng quân Bell Geno” và làm chết 320 quân Achentina. Hôm sau, tên lửa “Hải âu” của Anh bắn chìm tàu tuần tra Sobral của Achentina. Quân Anh hoan hỉ trong thắng lợi, có ngờ đâu, cơn ác mộng đang đến gần. Lúc này, tuần dương hạm lớn nhất, hiện đại nhất của hải quân Hoàng gia Anh – Sheffield đang bình an trong vùng biển chiến sự, tàu này có hệ thống rada tiên tiến nhất thế giới, quân Anh tin rằng máy bay của đối phương vừa xuất phát từ căn cứ đã bị phát hiện và vì vậy quân Anh trên tàu rất mất cảnh giác. 

11 giờ ngày 4/5, tàu sân bay “25/5” của Achentina chở 2 máy bay “Quân kỳ siêu cấp” xuất kích ở khoảng cách 300 hải lí bay về phía tuần dương hạm Sheffield, khi tiếp cận vùng cảnh giới của rada đối phương, nó hạ thấp độ cao còn 40-50m, thì tắt ra đa, đến 12 giờ, "Quân kỳ siêu cấp” đã bay vào vùng bắn có hiệu quả, ở khoảng cách 32 km, 2 tên lửa "Cá bay-AM39” của quân Achentina đã rời bệ phóng, 1 trong 2 tên lửa AM39 đã rơi đúng trung tâm chỉ huy của hạm tàu, và như vậy chỉ với 1 tên lửa AM39 giá 300 000 USD, đã bắn chìm tuần dương hạm hiện đại nhất của hải quân Anh trị giá gần 1 tỉ USD, và cũng đánh chìm luôn cả lòng kiêu ngạo của hải quân Anh. 

Ngày 12/5, 12 máy bay “Thiên ưng” của Achentina đã bắn chìm 2 tàu hộ tống “Đại đao”“Hoa mỹ” của Anh. 

Ngày 21/5 quân Anh bắt đầu đổ bộ lên đảo, không quân và hải quân Achentina bắn rơi 5 máy bay và bắn chìm 1 tàu hộ tống của Anh. 

Ngày 25/5, nhân ngày quốc khánh của Achentina, Achentina tiến hành không kích qui mô lớn vào quân Anh, 2 máy bay “Quân kì siêu cấp” mang 2 tên lửa “AM39-Cá bay”, xuất phát từ lục địa bay về phía tàu sân bay “Vô địch” của Anh, với nhiệm vụ bắn chìm tàu sân bay này. Khi bay đến vùng dự định, phi công trên máy bay phát hiện trên màn hình rada 1 điểm sáng lớn, và anh ta tin rằng đây chính là mục tiêu mong đợi, 2 quả tên lửa “cá bay” đồng thời được ấn nút và bay thẳng vào mục tiêu. 1 tên lửa đã trúng mục tiêu, và con tàu khổng lồ của Anh đã bị đánh chìm xuống Đai Tây Dương, mang theo một lượng lớn máy bay , khí tài và quân lính. Sau đó, người Achentina mới biết rằng con tàu bị đánh chìm lại không phải là tàu sân bay, mà là tàu vận tải khổng lồ mang tên “Người vận tải Đại Tây Dương”, có kích thước tương đương với tàu sân bay “Vô địch”. Còn hôm sau, tàu khu trục “Conventi” của Anh cũng bị bắn chìm.

Sau một loạt những thất bại quá đau đớn trên, quân Anh mới nhìn thấy tính cực kì nguy hiểm của tên lửa “AM39- Cá bay”, tư lệnh hạm đội hỗn hợp ra lệnh tất cả tàu phải rời xa vùng biển Manvinat để tránh tổn thất. Lúc xảy ra chiến tranh, không quân Achentina có vẻn vẹn đúng 5 tên lửa AM39, mua từ Pháp, mỗi tên lửa giá 300 000 USD. Achentina đặt mua khẩn cấp 10 tên lửa nữa, nhưng theo yêu cầu của Anh, Pháp không bán tên lửa này cho Achentina nữa, Achentina bèn đặt hàng với giá cao, nhờ Pê -ru mua, nhưng Pháp cố tình trì hoãn việc giao hàng, mãi đến khi chiến tranh kết thúc, hàng mới tới Pê-ru. Không có tên lửa “Cá bay”, Achentina không có khắc tinh chống lại hạm đội hùng mạnh của Anh, cục diện chiến tranh chuyển sang bước ngoặt mới. Ngày 29/5, quân Anh bắt đầu tổ chức đổ bộ lên đảo, công kích cảng Stenli, tiêu diệt 260 quân, bắt sống 1400 lính Achentina. 

Để cứu vãn quân trên đảo, Tổng thống Galtieri ra lệnh tập trung lực lượng không quân, không kích qui mô lớn vào quân Anh, 190 lính Anh bị diệt, bắn chìm 3 tàu đổ bộ trong đó có tàu nổi tiếng “Galahad”.Trong khi không quân Achentyina tỏ ra xuất sắc, thì lục quân lại tỏ ra yếu thế, không có khả năng thực thi tác chiến phối hợp. Quân Anh tuy bị tổn thất lớn, song vẫn quyết tâm chiếm đảo. Ngày 5/6, tàu khách “ Nữ hoàng Elizabeth” chở 3000 quân tăng viện lên đảo, đưa tổng số quân Anh lên 9000, 30 trọng pháo, 20 xe tăng. Ngày 11/6, quân Anh tổng công kích, quân Achentina bị cô lập, thất bại thảm hại. 

Trước tình thế nguy cấp, Bộ Quốc phòng Achentina điện cho Tư lệnh trên đảo “Trong tình hình không làm tổn hại đến danh dự của lực lượng vũ trang và chính sách trong nước, được tự do hành động”. Đến chiều 14/6, tư lệnh của 2 bên trên đảo gặp nhau, đạt được 1 hiệp nghị ngừng bắn không chính thức. Tư lệnh lực lượng Achentina trên đảo khi kí vào văn bản do phía Anh đề xuất là “đầu hàng vô điều kiện”, đã lờ đi 3 từ “vô điều kiện”, cuộc chiến 74 ngày ác liệt đã kết thúc.

Khói lửa của chiến tranh Manvinat đã tiêu tan, trong cuộc đọ sức này, quân Anh đã phải trả giá với cái chết của hơn 1000 quân Anh, tiêu hao 2,7 tỉ USD, để giành lại một chiến thắng trên danh nghĩa. Thất bại trên danh nghĩa của Achentina cũng không làm nản lòng Achentina trong việc đấu tranh giành chủ quyền Manvinat. Achentina lấy ngày 10/6 hàng năm là “Ngày chủ quyền Manvinat”.

Chiến tranh không làm tắt được cuộc tranh chấp chủ quyền Manvinat giữa 2 nước, trái lại nó càng làm cho 2 dân tộc càng xa nhau, thù hận càng sâu đậm.

Tags:

HÓT: ĐÃ TÌM RA KẺ BẮN HẠ MH17?

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014 1 nhận xét


Kính Chiếu Yêu: Igor Girkin lãnh đạo Quân đội nhân dân Donetsk tự xưng thừa nhận đã bắn hạ máy bay MH17 của Malaysia chở gần 300 người vào ngày 17/7 vừa qua trên mạng facebook.

                                     Igor Girkin hay còn được gọi là Strelkov- tay súng

“Máy bay vừa bị bắn hạ ở đâu đó quanh Torez (vùng Donetsk). Nó nằm ở đó, sau mỏ Progress. Chúng tôi đã cảnh báo các người, đừng có bay trên “vùng trời của chúng tôi”, Igor Girkin người có biệt danh là Strelkov có nghĩa là “tay súng” cho biết trên tài khoản VK, một dạng facebook tiếng Nga. Mỏ Progress là thị trấn mỏ với khoảng 80.000 dân.

“Và đây là video chứng tỏ một “con chim” nữa bị bắn rơi… Cũng có thông tin về một máy bay khác bị bắn”, tay súng này cho biết thêm.

Thông báo đăng trên mạng nhận trách nhiệm bắn hạ máy bay quân sự chở hàng đã bị xóa sau khi có thông tin máy bay dân sự gặp nạn.

Stelkov và nhóm của mình, Quân đội nhân dân Donetsk tự xưng, có vẻ như nhầm máy bay Malaysia với một máy bay quân sự của Ukraine. Song thông điệp trên đã bị xóa sau khi nhiều nguồn tin xác nhận là máy bay Malaysia bị tên lửa bắn hạ.


                     Igor Girkin (giữa) là lãnh đạo Quân đội nhân dân Donetsk tự xưng.

Ngày 29/6 vừa qua, lực lượng nổi dậy đã tự hào khoe rằng họ đã chiếm được một căn cứ quân sự của Ukraine và căn cứ này có tên lửa đất đối không Buk. Thông tin được tờ Kyiv Post đăng tải song không rõ căn cứ có bao nhiêu tên lửa.

Theo BBC, Strelkov, lãnh đạo của Quân đội Nhân dân Donetsk, là một sĩ quan đã nghỉ hưu của Cơ quan An ninh Liên bang Nga. Ông được sinh ra vào năm 1970 và là một công dân chính thức của Moscow. Ông đã hoạt động tại khu vực này trong nhiều thập kỷ.


               Igor Girkin từng là sỹ quan lực lượng an ninh Liên bang Nga.

Nhóm của ông có kinh nghiệm chiến đấu trong các cuộc chiến của lực lượng vũ trang Nga ở Chechnya, Trung Á, Nam Tư, Iraq và Syria. Bản thân ông cũng đã tham gia vào cuộc xung đột ở Nam Tư.

“Ông cũng được cho là một người đam mê quân sự chuyên về lịch sử các sắc lệnh tái ban hành và hoạt động tổ chức vui chơi trong trận chiến”- BBC cho hay.

Một nhóm Girkin trên Facebook, gồm toàn các thành viên là fan hâm mộ của viên chỉ huy, có câu slogan như sau: “Chúng ta đã đánh bại quốc xã, chúng ta sẽ đánh bại chủ nghĩa quốc xã”.

Vào khoảng thời gian máy bay bị rơi, phương tiện truyền thông Nga trích dẫn lời các nhân chứng cho biết họ nhìn thấy một chiếc máy bay bị tấn công bởi những thứ mà họ nghĩ đó là một tên lửa.

Có vẻ như đã rõ thủ phạm, nguyên nhân có lẽ là một sự nhầm lẫn tai hại trong tình hình có chiến sự. Và vì vậy, sẽ khó quy trách nhiệm đến cùng cho bên nào về sự kiện này.

Tags:

LẠI CHUYỆN CHÓ CẮN MA

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
5 nhận xét

Kính Chiếu Yêu

Hôm 16/7 vừa rồi, sau khi gặm khúc xương mà ông chủ ban cho, Cù Huy Hà Vũ đã bắt đầu cất những tiếng ẳng đầu tiên tại diễn đàn Quốc Hội Hoa kỳ. Lời nhắn nhe của họ Cù đến chủ Mỹ là: muốn nắm lợi ích chiến lược ở Biển Đông thì Hoa Kỳ cần phải thực hiện tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, phế bỏ cho được chính thể cộng sản. Còn nếu không thì “dẹp tiệm”, không TPP, không lên tiếng về biển Đông, không gì sất.

Phát biểu của hắn vẫn mấy luận điệu nhai lại: Chế độ cộng sản là chống lại loài người; Ở Việt Nam không có nhân quyền; Chỉ có liên minh quân sự Mỹ - Việt (sau khi lật đổ chế độ cộng sản) mới bảo vệ được Việt Nam, chống bành trướng Trung Quốc.

Đúng là giọng điệu của “chó cắn ma”, vừa ẳng vừa sợ vừa ngóng ý chủ. Tuy nhiên, càng sủa càng lộ cái ngu của hắn, hắn nói thế này: “Chủ nghĩa cộng sản là chống lại con người mà chế độ cộng sản ở Việt Nam là một bằng chứng sống động”. Hắn nói mà không hề ngoái lại phía sau để đếm xem có bao nhiêu Đảng cộng sản đang hoạt động công khai trên đất Mỹ, trên đất các quốc gia châu Âu và các nước khác trên thế giới. Sự có mặt của ĐCS nhiều vô thiên lủng. Ít nhất, hiện nay ở 15 nước trên thế giới có ĐCS cầm quyền hoặc liên minh cầm quyền, 136 đảng cộng sản và công nhân đang hoạt động hợp pháp ở 88 nước. Theo Vũ thì chắc là các dân tộc có ĐCS hoạt động đều là xứ man rợ, chống lại con người, trong đó có nước Mỹ. Những nơi đi theo luận thuyết chủ nghĩa cộng sản xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới đều là man rợ, chống lại loài người, trong đó có những nước như Thụy Điển, nơi được coi là một trong số ít quốc gia đáng sống nhất thế giới. Vấn đề là ở chỗ, những mục tiêu mà nó hướng tới có hợp lòng dân, có là sự tiến bộ xã hội chứ không phải cái danh xưng.

Hắn nói, “Trong khi các văn bản pháp lý này thừa nhận quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền lập hội bao gồm quyền lập công đoàn, quyền biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... thì chính quyền Việt Nam lại đặt ra các điều luật hình sự để bỏ tù những người thực hiện các quyền này. Đó là Điều 88 – Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 258 – Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân và Điều 79 – Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Một thằng cha TS luật mà nói như đứa mù luật, thứ hỏi hắn Hiến pháp Việt Nam và các đạo luật hiện có đã đáp ứng những quyền cơ bản đó chưa? Ở nước Mỹ có những điều luật tương tự vậy không? Nếu hắn chưa đọc luật pháp Mỹ thì chỉ cho hắn biết, Điều 2385 trong "Mỹ quốc pháp điển” đã quy định rằng:

“Bất cứ người nào cố tình hoặc chủ ý vận động, tiếp tay, khuyên bảo người khác, hoặc giảng dạy trách nhiệm, sự cần thiết, sự khao khát, hoặc có hành vi lật đổ hoặc hủy diệt chính quyền liên bang Hoa Kỳ hoặc chính quyền bất kỳ tiểu bang, địa hạt, quận bằng vũ lực hoặc bạo lực hoặc bằng cách mưu sát bất kỳ nhân viên chính quyền của bất kỳ chính quyền cấp nào tại Hoa Kỳ hoặc

Bất cứ người nào có mục tiêu hành động để lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào bằng cách in ấn, xuất bản, chỉnh sửa, phát hành, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày nơi công công bất kỳ tài liệu viết hoặc được in nào có nội dung vận động, quảng bá hoặc giảng dạy trách nhiệm, sự cần thiết, sự khao khát lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Hoa Kỳ bằng vũ lực hoặc bạo lực hoặc thử làm những hành vi trên; hoặc

Bất kỳ ai tổ chức hoặc giúp đỡ hoặc cố gắng tổ chức bất kỳ công đồng, nhóm, hoặc hội họp những người giảng dạy, vận động, hoặc khuyến khích việc lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Hoa Kỳ bằng vũ lực hoặc bạo lực; hoặc trở thành hoặc đã là thành viên hoặc là một chi nhánh của các cộng đồng, nhóm hoặc hội họp cùng những người có các hành vi đó

Sẽ bị phạt vì nội dung điều luật này hoặc bị bỏ tù không qua 20 năm, hoặc cả hai hình thức này, và sẽ bị từ chối tư cách làm việc cho chính quyền Hoa Kỳ hoặc bất kỳ bộ phận, cơ quan nào của chính quyền trong vòng 5 năm sau khi bị kết tội….”

Dẫu điều 2385 vốn được giải thích chỉ có tội khi cố lật đổ chính phủ bằng bạo lực nhưng vẫn bị cho là rất mơ hồ, nó có thể cho phép tuyên có tội khi ai đó muốn lật đổ chính phủ cho dù không phải bằng bạo động. Ăn cơm Mỹ mà họ Cù không biết mới năm ngoái, Vụ xử công dân Mỹ Cameron Dbonbrogie ở thị trấn METHUEN   MASSACHUSETT 20 tù vì đã đưa lên mạng bài RAF dọa sẽ tổ chức khủng bố là căn cứ vào đâu? 

Ngay cả giới diều hâu ở Mỹ cũng chỉ đề cập đến các điều luật trên của Việt Nam ở khía cạnh chung chung “giải thích mù mờ”, “dễ bị lạm dụng” chứ chẳng có thằng cha nào phủ định sạch trơn cả họ Cù ạ. Có nghĩa là, nếu nội hàm của điều luật được minh định chi tiết thì khối thằng cũng chết như kiểu Cameron Dbonbrogie chứ không phải chỉ “2/3 trong số khoảng 400 tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm bị kết án theo 3 điều luật hình sự này” như Vũ nói.

Ra vẻ lo cho vận nước, hắn kêu gọi một liên minh quân sự Mỹ - Việt như lại lòi cái đuôi của món ăn kèm với điều kiện “chính thể cộng sản Việt Nam được giải thể”. Đấy chỉ là trò chơi chữ ngu ngốc. Hắn nói: “Mặc dầu vậy, rõ ràng là Hoa Kỳ không thể sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam nếu không có một hiệp ước liên minh quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Thế nhưng một lần nữa tất cả chúng ta thấy rằng lý tưởng tự do và dân chủ của Hoa Kỳ không cho phép Hoa Kỳ liên minh quân sự với một chế độ độc tài cộng sản đồng nhất với tội ác chống lại con người như đang tồn tại ở Việt Nam. Nói cách khác, Hoa Kỳ chỉ có thể liên minh quân sự với Việt Nam sau khi chính thể cộng sản Việt Nam được giải thể”. Chỉ có thằng ngu mới không biết màn nhảy múa của các nước lớn vì lợi ích của họ như Hoa Kỳ, Trung Quốc trên số phận của nước nhỏ như Việt Nam. Chắc nước Mỹ, theo lời của họ Cù sẽ nả đại bác vào Trung Hoa để bảo vệ Việt Nam thay vì bắt tay làm ăn với thị trường 1,3 tỉ dân đang nắm khoản nợ lớn nhất với Mỹ!

Trước diễn đàn Quốc hội Mỹ họ Cù đã “khẩn thiết kêu gọi”:

1- Hạ Viện Hoa Kỳ tiếp tục soạn thảo và thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam trong đó kiên quyết yêu cầu chính quyền cộng sản Việt Nam trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho tất cả tù nhân chính trị - tù nhân lương tâm đồng thời hủy bỏ các điều 79, 88 và 258 Bộ Luật hình sự Việt Nam.

2- Thượng Viện Hoa Kỳ khẩn trương thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam sau khi Dự luật này được Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua.

3- Lưỡng Viện Hoa Kỳ không thông qua việc chấp nhận Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cho đến khi nào chính quyền cộng sản Việt Nam chấm dứt hoàn toàn xâm phạm nhân quyền và thiết lập lộ trình dân chủ hóa chế độ.

Họ Cù đã nhầm về nhân quyền Mỹ, cái tiêu chuẩn mà họ đưa ra thế giới gọi là "tiêu chuẩn kép" chỉ là để lôi kéo sự đồng tình của thế giới đứng dưới lá cờ Mỹ, còn ngay tại nước Mỹ nó cũng đâu có được tôn trọng triệt để. Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm đều trình lên Quốc hội một số báo cáo tổng hợp về tình hình nhân quyền trên thế giới, nhưng thế giới lại chỉ ra, ngay tại nước Mỹ còn khối chuyện của nhân quyền. Việc Hoa Kỳ can thiệp vào Nam Tư (cũ) và sau này là Serbia và ủng hộ độc lập cho Kosovo. Vào năm 2004, tổ chức nhân quyền quốc tế Human Rights Watch đã công bố báo cáo chỉ trích hoa Kỳ nặng nề trong việc vi phạm quyền của người Afghanistan và Pakistan. Chương trình Dateline của Đài SBS (Úc) công bố những hình ảnh mới về việc lính Mỹ tại nhà tù Abu Ghraibn ngược đãi tù nhân Iraq. Cùng năm đó, năm 2006, Ủy ban Nhân quyền Liên hiệp quốc đã từng công bố bản báo cáo lên án Mỹ đã vi phạm Công ước quốc tế về nhân quyền đối với các tù nhân bị giam giữ tại Guantanamo. Trong năm 2010, hàng loạt các thông tin liên quan đến việc vi phạm nhân quyền của Mỹ đã bị rò rỉ và đăng tải trên WikiLeaks. Gần đây nhất là vụ điệp viên CIA Edward Snowden tiết lộ về vụ CIA nghe lén hàng triệu người trong đó có cả nguyên thủ các quốc gia đồng minh của Mỹ.

Những hành động đó bị coi là sự can thiệp "trắng trợn" của Chính phủ Hoa Kỳ đến nhân quyền của các nước. Những kiểu ẳng như họ Cù và một số người Việt khác ở diễn đàn Quốc hội Mỹ thực chất là những thủ đoạn chiêu bài để tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ một số nước trên trường quốc tế, gây rối, chia rẽ, tạo ra tình trạng mất đoàn kết trong nhân dân sở tại và là một công cụ trong chính sách đối ngoại, thông qua đó lấy cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác mà thôi. Bài học nhãn tiền của các cuộc cách mạng màu ơt Tây Á, Bắc Phi và gần đây nhất là Grudia đã nói lên điều đó. Sau 10 năm lính Mỹ nả đạn phá hủy Iraq, treo cổ Hussein để áp đặt nền dân chủ Mỹ thì nay lại nội chiến. Nhiều nước đã chỉ trích Mỹ tự cho mình có quyền "can thiệp nhân đạo" và quảng bá quan niệm "quyền con người không có biên giới", "nhân quyền cao hơn chủ quyền" để phủ nhận quyền của các dân tộc, nhất là quyền tự quyết định vận mệnh hay tự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc đó. 

Quốc hội Mỹ họp cả năm, thỉnh thoảng họ cho vài đứa kiểu như họ Cù đăng đàn để chống cơn buồn ngủ mà thôi. Việt Nam vẫn là thành viên có trách nhiệm của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc.


Tags:

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TỒN TẠI Ở TẦM AO LÀNG CỦA NGƯỜI ÚC

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
0 nhận xét

Chiềng Chạ
Nga đã tức giận trước những cáo buộc của Úc.
Vụ MH17 với hơn 300 sinh mạng của con người đã vĩnh viễn ra đi với một lí do rất không đâu. Điều đó khiến dư luận và những quốc gia chịu tổn thất trực tiếp như Malaysia và những người có hành khách trên chuyến bay định mệnh ấy tức giận. Đến thời điểm hiện tại Malaysia đã có những yêu cầu chính thức đối với nhà chức trách Ukraine và Liên Hợp Quốc cũng thúc dục nước này nhanh chóng điều tra, công bố nguyên nhân chính gây nên thảm họa nói trên....Những tiếng nói đó là cần thiết và đúng trách nhiệm nhưng những nước này cũng cho thấy họ bình tĩnh, ôn hòa như thế nào khi đối xử với một vấn đề đang trở thành mối quan tâm chung của cả thế giới. 

Chiếc MH 17 rơi trên không phận của Ukraine, gần với khu vực Biên giới Nga - Ukraine, cho nên dù Nga muốn nói gì thì việc nghĩ đến một kịch bản người Nga liên quan đến vụ việc này là điều hoàn toàn có thể. Nhất là trong thời điểm cuộc chiến tranh mang tính nội bộ của Chính phủ Ukraine và phe li khai, nổi dậy của các khu vực này đang bị Mỹ cáo buộc là có bàn tay của người Nga. Nhưng sẽ không ai có quyền "khẳng định" mọi chuyện thuộc về người Nga hay những chiến binh nổi dậy tại Ukraine và đặc biệt nếu đó là những phát ngôn "hùa" theo tuyên bố, những chính sách cấm vận tiếp theo của Mỹ và các nước Đồng minh lên Nga thì tính khách quan của nó lại bị nghi ngờ nghiêm trọng. Và trong bối cảnh quan hệ quốc tế đang có những sự chuyển trục nhất định, việc thận trọng và giữ một thái độ khách quan trong quan hệ quốc tế là tối quan trọng. Người Úc hiểu điều đó nhưng cái cách mà họ hành xử khi nói về vụ MH17 trong tương quan với nước Nga thì hoàn toàn sai lầm và khó có được một kết cục hoàn mỹ. "Trước thông tin máy bay Malaysia rơi ở Ukraine, khiến toàn bộ 298 hành khách và phi hành đoàn trên máy bay thiệt mạng, trong đó có 28 người Úc, ngày 18/7, Thủ tướng Úc Tony Abbott đã gay gắt chỉ trích Nga: "Tôi phải nói với các bạn rằng phản ứng ban đầu của Đại sứ Nga là đổ lỗi cho Ukraine... Đây là một điều rất rất không thỏa đáng. Vụ việc không phải là một tai nạn, "mà là một tội ác" và phe ly khai thân Nga phải chịu trách nhiệm.Tất cả chúng ta đều biết có nhiều vấn đề tại Ukraine. Chúng ta cũng biết ai mới thực sự là người có lỗi trong những vấn đề này và việc Nga tuyên bố không dính dáng gì đến chúng vì nó diễn ra trong không phận Ukraine là một điều thực sự không thể chấp nhận được. Tôi muốn nói với người dân Úc rằng những gì tôi lo ngại là phe nổi dậy do Nga hậu thuẫn dường như đã giết người Úc bằng vũ khí hạng nặng do Nga cung cấp. Vụ việc rồi sẽ được làm sáng tỏ. Úc sẽ theo dõi sát sao và chúng tôi muốn có một cuộc điều tra toàn diện hết mức có thể”.
Mỗi một quốc gia đều có những chính kiến của mình cho những vấn đề mà họ quan tâm. Việc có nạn nhân trong vụ MH17 khiến giới chức Úc không thể không lên tiếng, và đó được coi là tiếng nói trách nhiệm của giới lãnh đạo đối với những công dân xấu số của họ. Là một sự lên án cần thiết để phòng ngừa những tình huống đáng buồn có thể xảy ra sau này. Nhưng như đã nói, điểm khác biệt trong cách hành xử giữa các nước chính là lựa chọn thái độ ứng xử và đứng ở đâu khi nói về một vấn đề. Đây rõ ràng là một vấn đề thuộc về trách nhiệm của những người làm công tác ngoại giao và họ phải nói thay những nhà chức trách về nội dung này. Tuy nhiên, nghe cái cách mà vị Thủ tướng nước này phát biểu thì dường như họ đã có chính xác những kết quả điều tra về vụ việc và họ có quyền công bố với thế giới về vai trò của người Nga trong vụ việc và lên tiếng yêu cầu người Nga phải chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra. 

Nhưng người Úc, vị Thủ tướng đáng kính của họ nói là không có những cứ liệu cần thiết như thế. Có chăng, trước họ giới lãnh đạo Mỹ đã nói và họ tự cho mình có quyền nói theo những gì mà cường quốc số 1 đã từng nói. Tổng thống Mỹ Barac Obama từng phát biểu: "Chúng ta đều biết rằng những kẻ ly khai này nhận được những sự hỗ trợ đều đặn của Nga. Sự hỗ trợ đó bao gồm vũ khí và các chương trình huấn luyện. Nó bao gồm các vũ khí hạng nặng. Và còn bao gồm các vũ khí phòng không. Nếu ông Putin quyết định không cho phép các vũ khí hạng nặng và dòng chiến binh xâm nhập vào Ukraine qua biên giới Ukraine - Nga thì mọi thứ sẽ dừng lại. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thì chỉ trích rằng việc này là lời cảnh báo tới Tổng thống Nga Putin rằng "ông ta đã đi quá xa và rằng chúng tôi sẽ không ngồi yên". Tuy nhiên, đã là một đồng minh thì không đồng nghĩa, người Úc phải phụ họa 100% như chính quốc gia đỡ đầu của mình làm và ít nhất đối diện với một vấn đề cụ thể thì bản thân của họ phải có chính kiến (chính kiến riêng, cách nói riêng làm nên bản sắc và những giá trị quốc gianhưng thật đáng buồn người Úc lại chọn cái phương án Phụ họa tầm thường và không đi đến đâu.
Đây cũng là lí do chính khiến đối với lời phát biểu của người đứng đầu Nhà trắng, Người Nga chỉ lắng nghe và ôn hòa khi phản biện lại nhưng người Nga đã "nổi giận vì bình luận của Úc về vụ máy bay Malaysia rơi". "Trong một thông báo chính thức của mình, Bộ Ngoại giao Nga viết: "Ông T.Abbott đã vội buộc tội mà không dành thời gian để quan tâm tới bằng chứng và chỉ hành động dựa vào những đồn đoán. Những tuyên bố của ông Abbott không thể chấp nhận được". Mặc dù quan hệ Nga - Úc chưa bao giờ có những dấu hiệu mặn nồng, nhất là quan hệ kinh tế - thương mại chỉ dừng lại ở những kết quả khiêm tốn và hai nước chưa bao giờ có ý định thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Có thể đây là nguyên nhân chính khiến người Úc mạnh miệng khi nói về sự kiện MH17 với những cáo buộc không thương tiếc cho người Nga mà không màng đến hệ lụy có thể gánh chịu. Nhưng không thể lấy một lí do bất cần và phi thực tế trong bối cảnh quan hệ quốc tế đang trở nên phổ biến toàn cầu và người ta đang cố gắng từ bỏ những chướng ngại từ quá khứ để đến với nhau. 

Những tiếng phản hồi từ người Nga, suy cho cùng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến nước Úc bởi điều họ cần chính là thiết lập và củng cố thêm mối quan hệ bền chặt với Mỹ và họ cũng chưa nghĩ đến tình huống làm bạn với người Nga. Song điều đó cho thấy, họ đã quá thiện cẩn trong tiếp xúc, ứng xử với một vấn đề mang tính quốc tế và những chiến lược ngoại giao của họ chỉ xứng đáng tồn tại ở "ao làng" mà thôi./.

Tags:

SỰ THẬT VỀ BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG THỜI ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014 0 nhận xét

Mõ Làng: Trong bài viết "Trò tháu cáy của thế lực Sam Rainsy ở Campuchia" tôi đã lược lại quá trình lập quốc, mở rộng, định hình bờ cõi của nước Việt và đã xác định rằng, đến năm 1758 (cách đây ngót 250 năm) cương giới lãnh thổ Việt đã ổn định như vậy đến ngày nay. Vậy nhưng, các thế lực Sam Rainsy đã lu loa về một cuộc Việt Nam chiếm đất của Campuchia. Thực dân Pháp đã cắt đất "Lục tỉnh" của Campuchia cho Việt Nam.

Để làm rõ sự thật lịch sử về vấn đề này, tôi xin lược lại sự thật về biên giới đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng thời Đông Dương thuộc Pháp để chúng ta thấy sự bịp bợm của đám chính khách đối lập ở Campuchia. 

Tháng 8- 1858, thực dân Pháp bắn súng vào cửa biển Đà Nẵng, mở màn cuộc xâm chiếm Việt Nam. Đến ngày 5-6-1862, triều Nguyễn ký hòa ước, theo đó "nhượng" ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp. Sau đó, Pháp đã nhanh chóng đánh chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên chỉ trong năm ngày (từ ngày 20 đến ngày 24-6-1867). Đến đây, toàn bộ "lục tỉnh Nam Kỳ" đã bị thực dân Pháp cai quản. 

Chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp càng có thêm điều kiện ráo riết chuẩn bị cuộc tấn công chinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong hai năm 1873 và 1874, Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất. Ngày 15-3-1874, triều đình Huế và Pháp ký hoà ước tại Sài Gòn, gồm hai 22 điều khoản, theo đó phong kiến triều Nguyễn chính thức dâng toàn bộ đất đai Nam Kỳ cho thực dân Pháp, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình của Pháp ở Việt Nam. 

Từ năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Ngày 25-8-1883, triều đình Huế ký với thực dân Pháp một hiệp ước mới, theo đó chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, mọi công việc chính trị - kinh tế - ngoại giao của việt Nam đều do Pháp nắm. Khu vực do triều đình cai trị chỉ còn lại từ tỉnh Khánh Hoà ra tới Đèo Ngang; tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ; ba tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá sáp nhập vào Bắc Kỳ. 

Từ đầu năm 1884, chiến sự diễn ra ngày một thêm ác liệt trên Bắc Kỳ, các tỉnh còn lại lần lượt bị Pháp đánh chiếm. Ngày 6-6-1884, Chính phủ Pháp và triều đình Huế ký một hiệp ước thay thế cho hiệp ước năm 1883 (gọi là Hiệp ước Pa-tơ-nốt), gồm 19 điều khoản, đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam. 

Sau khi hoàn tất việc xâm chiếm Đông Dương, đặt xong chế độ thuộc địa đối với Việt Nam, Lào và Campuchia, năm 1887 Pháp đã thành lập Liên bang Đông Dương gồm xứ thuộc địa Nam Kỳ và bốn xứ bảo hộ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Ai-lao và Cao-miên.

Trên cơ sở hiện trạng ranh giới lịch sử tập quán đã hình thành từ lâu đời giữa Việt Nam với Lào và giữa Việt Nam với Campuchia, chính quyền thực dân Pháp, căn cứ vào Hiệp ước Pa-tơ-nốt giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và triều đình Huế ký ngày 6-6-1884, Pháp thay mặt nhà nước Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề phân định biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Pháp đã đàm phán, ký kết hiệp ước biên giới với Trung Quốc và Thái Lan để xác lập đường biên giới chính thức của xứ Đông Dương thuộc Pháp trong thời cận đại. Đồng thời ấn định đường biên giới hành chính giữa ba xứ thuộc địa Việt Nam, Lào và Campuchia căn cứ theo ranh giới tập quán hình thành từ lâu trong lịch sử. 

1) Biên giới giữa Việt Nam và Lào: 

Sau khi chiếm xong Cao-miên (1868) và Việt Nam (1884), Pháp đã gây sức ép buộc Xiêm La (Thái Lan) trả lại cho Pháp các vùng đất phía Đông sông Mê Công mà Xiêm La đã chiếm của Việt Nam, Cao-miên và Ai-lao. Hiệp ước Pháp - Xiêm ký ngày 3-10-1893, đã lấy lại toàn bộ những vùng đất mà Xiêm La mới xâm chiếm của Việt Nam, Lào và Campuchia nằm ở phía Đông sông Mê Công. Đổi lại, Pháp công nhận quyền của Xiêm La đối với các tỉnh phía Bắc của Thái Lan ngày nay vốn là 17 tỉnh của Lào. 

Năm 1893, chính quyền Pháp thành lập hai cụm Thượng Lào và Hạ lào trên cơ sở những đất đai của Ai-lao cũ được Xiêm La trả lại, gồm khu vực phía Bắc Viêng Chăn, Luổng-phạ-băng, Huổi Hu (cụm Thượng Lào) và khu vực phía Nam gồm Bassac, Sa-la-van, Ắt-ta-pư (cụm Hạ Lào). Trong cụm Hạ Lào, Pháp đã ghép một phần đất thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam (Hoả Xá, Thuỷ Xá) và vùng Strung-treng của Cao-miên vào. 

Đến năm 1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển phần đất Sông Khôn và Cam Môn vào cụm Hạ Lào và trả về Việt Nam phần đất Hoả Xá và Thuỷ Xá thuộc vùng Tây Nguyên ngày nay. 

Năm 1899, Tổng thống Cộng hoà Pháp ký Sắc lệnh hợp nhất hai cụm Thượng Lào và Hạ Lào thành một đơn vị hành chính thống nhất, gọi là xứ Ai-lao thuộc Pháp. Đồng thời tiến hành việc phân định ranh giới giữa Ai-lao và Việt Nam, theo nghị định ngày 27-12-1913 và ngày 12-10-1916 của Toàn quyền Đông Dương. 

2) Biên giới giữa Việt Nam và Campuchia: 

Năm 1863 Pháp đặt chế độ bảo hộ ở Campuchia và đến năm 1868 xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ quốc gia này. Năm 1867, Pháp chiếm xong "Lục tỉnh Nam Kỳ". Năm 1874, Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Ngay trong thời gian tiến hành xâm chiếm Đông Dương, để phục vụ mục đích cai trị lâu dài của mình, thực dân Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Cao-miên. 

Đến năm 1887, khi tiến trình xâm chiếm thuộc địa hoàn tất, chính quyền Pháp đã tuyên bố thành lập “Liên bang Đông Dương" gồm thuộc địa Nam Kỳ và bốn xứ bảo hộ là Cao-miên, Ai-lao, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Các đường ranh giới giữa các xứ được coi là "ranh giới hành chính" và được xác định theo trình tự, thủ tục do pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định. 

Riêng với Campuchia, căn cứ theo Thoả ước Pháp - Cao-miên ký ngày 09-7-1870 và tiếp đó là Công ước Pháp - Cao-miên ký ngày 15-7-1873 giữa Pháp và triều đình Campuchia, các chuyên gia Pháp và Campuchia đã tiến hành công việc khảo sát song phương trên thực địa để xác định đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Trong các năm từ 1876 đến 1896, Pháp và Campuchia đã ký được một loạt văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc. Sau này Toàn quyền Đông Dương chỉ ban hành một số nghị định để điều chỉnh chi tiết những đoạn biên giới nhỏ. 

Cùng với việc hoạch định biên giới và phân giới cắm mốc trên thực địa, Sở Địa dư Đông Dương đã in ấn bản đồ thể hiện khá rõ ràng đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Campuchia do thực dân Pháp để lại theo tài liệu và bản đồ cũ dài khoảng 1.137 km. Gồm hai đoạn chính: Đoạn biên giới giữa Nam Kỳ với Campuchia đã được Pháp và Campuchia tiến hành hoạch định và phân giới cắm mốc; đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia chưa được phân giới cắm mốc. 

Tính đến thời điểm năm 1954 khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, toàn bộ đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã được thể hiện trên 26 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương xuất bản. Về cơ bản, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia thể hiện trên các bản đồ này không khác biệt gì lắm so với đường biên giới đã được hoạch định và phân giới cắm mốc trong giai đoạn lịch sử trước đây giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình Campuchia cũng như so với đường biên giới hiện tại giữa hai nước Việt Nam và Campuchia. 

3) Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Sau khi chiếm xong Bắc Kỳ, để khẳng định chủ quyền thuộc địa của mình đối với Việt Nam, ngày 11-5-1884 Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh đã ký Công ước "Hữu nghị và Láng giềng" tại Thiên Tân (Trung Quốc). Theo nội dung của công ước này Pháp tôn trọng và bảo vệ biên giới phía Nam của nhà Thanh; nhà Thanh rút ngay các lực lượng quân sự đóng tại Bắc Kỳ và tôn trọng hiện tại cũng như tương lai các hiệp ước đã ký hoặc sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế (thực tế từ bỏ cái gọi là quyền tôn chủ đối với Việt Nam); Pháp không buộc nhà Thanh bồi thường chiến tranh, nhà Thanh đồng ý tự do trao đổi hàng hoá hai bên biên giới và sẽ ký kết một hiệp ước thương mại với Pháp. Tuy nhiên, chỉ 15 ngày sau khi ký kết, nhà Thanh đã có những hành động vi phạm công ước, đòi Pháp phải công nhận biên giới truyền thống của nhà Thanh vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam mà Pháp đang quản lý. Phía Pháp đã không chấp nhận yêu sách đó của nhà Thanh. Cuộc chiến tranh Pháp - Thanh xảy ra trong tám tháng mới kết thúc và hai bên lại đi vào cuộc thương lượng mới. Kết quả là, ngày 9-6-1885 tại Thiên Tân (Trung Quốc), đại diện của Pháp và nhà Thanh đã ký Công ước hoà bình và thương mại Pháp - Thanh. 

Về vấn đề biên giới, điều 3 của Công ước Pháp - Thanh năm 1885 ghi: "Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ký kết công ước này, các uỷ ban do các bên ký kết cử ra sẽ đến tại chỗ để hội khám biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, ở nơi nào có nhu cầu, họ sẽ đặt những mốc nhằm làm rõ đường biên giới. Trong trường hợp họ không thể thoả thuận về vị trí những mốc đó hoặc về những điều chỉnh chi tiết cần có đối với đường biên giới hiện tại của Bắc Kỳ, họ sẽ vì lợi ích chung của cả hai nước báo cáo lên Chính phủ của mỗi bên quyết định". 

Nhằm thực hiện công ước nói trên, Pháp và nhà Thanh đã chia biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và Trung Quốc thành ba đoạn để hoạch định và phân giới cắm mốc: 

-Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Đông 
-Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây; 
-Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam. 

Từ tháng 01- 1886, Pháp và nhà Thanh tiến hành đàm phán để xác định biên giới. Hai bên đã tiến hành hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi, thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Từ ngày 20-3-1886 đến ngày 13-4-1886, hai bên đã vẽ bản đồ và hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Trên cơ sở hoạch định thí điểm, Pháp và nhà Thanh đã lần lượt ký biên bản hoạch định các đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam ngày 29-10-1886, đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Đông và đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây ngày 29-3-1887. Ngày 26-6-1887, hai bên ký Công ước hoạch định biên giới Pháp - Thanh, trong đó hoạch định lại một số đoạn biên giới tiếp giáp giữa Bắc Kỳ với Vân Nam và nói rõ đường kinh tuyến 105°43' là đường phân chia chủ quyền các đảo. Ngày 26-5-1895, hai bên ký Công ước bổ sung, thống nhất hoạch định các đoạn biên giới mà hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công. 

Trên toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, Pháp và nhà Thanh đã xác định 314 vị trí mốc và cắm 341 mốc giới. Quá trình phân giới và cắm mốc kéo dài trong 12 năm từ tháng 6-1885 đến tháng 6-1897. Về cơ bản, hai công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 thừa nhận đường biên giới lịch sử truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. 

Tags:

VỀ BÙI MINH QUỐC

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
0 nhận xét

Chiềng Chạ
Khi nhắc đến nhà thơ Bùi Minh Quốc chắc sẽ còn nhiều người chưa biết ông là ai và càng ngạc nhiên hơn khi cách đây không lâu "nhân vật bí ẩn" này lại được giữ một cương vị đặc biệt "Phó Chủ tịch Hội nhà báo độc lập" với nhiệm vụ bước đầu là kết nối những người làm báo tại khu vực Miền Trung Tây Nguyên. 
Ông là ai và do đâu có ông của ngày hôm nay.....
Gia đình của Nhà thơ Bùi Minh Quốc từng là biểu tượng lớn  của tinh thần cống hiến và khát khao giải phóng dân tộc. Họ đã bỏ lại đằng sau những dự định giang dở để thi triển tài năng văn học để cầm súng ra chiến trường. Họ cũng đã gửi lại đứa con thơ cho hậu phương để toàn tâm chiến đấu và cống hiến mà không chịu nhiều gánh nặng gia đình và không ai có thể hiểu nổi cái gì đang chảy trong họ khi tình thân và những khát khao đã được gạt sang một bên. Bùi Minh Quốc và nhà thơ Dương Thị Xuân Quý đã để lại những năm tháng đẹp nhất trên chiến trường khi cả hai đang ở độ tuổi đẹp nhất của tuổi trẻ và tình yêu....và dường như tạo hóa đã bất công khi đã để lại một trong hai vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường ác liệt nhất. 

Nhà văn, liệt sỹ Dương Thị Xuân Quý ra đi vào năm 1969, sau phát súng định mệnh của tên lính Đại Hàn đã khép lại những dự định đôi lứa của cả hai, kết thúc những năm tháng hai người có nhau trong chiến trường. Và khi trở về đời thực, nỗi đau của một người có tâm hồn nghệ sỹ đã khiến con người của nhà thơ Bùi Minh Quốc có cái gì đó lầm lũi và đau thương. Đây cũng là lí do khiến có người nhận xét trong thơ của Bùi Minh Quốc có tiếng thét đau thương. Chính bài thơ nổi tiếng "Bài thơ về hạnh phúc" đã được ông cảm và sáng tác cũng chính trong những hoàn cảnh hết sức đặc biệt ấy. Dù chiến tranh đã lấy đi của ông nhiều thứ nhưng cái mà nhiều người trân trọng của đồng đội, những người yêu thơ đối với Bùi Minh Quốc chính là khát vọng sống và nhìn cái cách ông sống, ông hoạt động nhiều người đã cảm nhận được ông sống như không chỉ cho riêng mình; ông sống cả phần người phụ nữ của đời ông, người vợ thân yêu của ông đã sớm lìa thế gian...

Khi đã trở về với thời bình, nhà thơ đã hoạt động trên nhiều lĩnh vực như văn học nghệ thuật, báo chí và điều đặc biệt là ông cũng đã gặt hái không ít những thành công; liên tục nhiều năm giữ cương vị lãnh đạo tại các cơ quan mà ông theo công tác. Ông là "một nhà thơ, nhà báo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, từng là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ, Tổng Biên tập Tạp chí Ðất Quảng tại Quảng Nam - Ðà Nẵng, người sáng lập và là Chủ tịch đầu tiên của Hội Văn nghệ tỉnh Lâm Ðồng". 

Nhưng cũng thật đáng tiếc, khi nhà thơ đã không còn là mình khi hòa bình đã lặp lại, những năm tháng chiến tranh mãi là một lát cắt thời gian; là nơi đẹp nhất mà công chúng, những người bạn yêu văn thơ, đồng đội có thể nhìn và ngưỡng vọng về ông.....
Ai cũng biết, giới văn học nghệ thuật thường có những cá tính đặc biệt, họ cũng chính là những người làm chức năng dự báo cho thời đại thông qua những sáng tác nghệ thuật của mình. Việc có một cá tính cũng đã là nguyên nhân chính khiến không ít những nhà thơ, nhà văn đã đi lạc lối sau khi chiến tranh đã kết thúc, trong đó Bùi Minh Quốc là điển hình.

Không ai có thể phủ nhận được, chiến tranh dù đau thương nhưng cái khí thế của cả dân tộc trong chiến tranh mãi là ký ức đẹp trong mỗi một con người bởi họ đã sống và chiến đấu như "những chiến binh" và khát khao cống hiến của họ là vô tư, là thánh thiện; họ đã hành động tất thảy vì cái chung mà vô tình cũng đã quên đi những cái quyền lợi riêng có của chính mình. Gia đình nhỏ của Bùi Minh Quốc đã hành động như thế và họ đã quên mất nên có một tâm thế khác, một chỗ đứng khác khi chiến tranh đã kết thúc bởi trong chiến tranh người ta mất mát quá nhiều, hi sinh quá nhiều vì cái chung nên khi hòa bình lập lại người ta có xu hướng nghĩ về gia đình, nghĩ về cái riêng (tất nhiên là trong mối quan hệ với cái chung, cái đại đồng). Đó âu cũng là một quy luật hợp lý và xứng đáng được tồn tại khi không còn chiến tranh. 

Chiến tranh qua đi, nước nhà cũng cần rất nhiều thời gian để chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế xã hội từ thời chiến sang hòa bình. Quá trình này cần được thực hiện từng bước, có lộ trình cụ thể và dù được giúp sức của nhiều nước, nhiều bạn bè nhưng chắc sẽ có những sự bỡ ngỡ, thiếu sót nhất định. Tuy nhiên, thay vì có những cái nhìn rộng lượng thì một bộ phận văn nghệ sỹ đã từng cống hiến và hi sinh trong chiến tranh như Bùi Minh Quốc lại quay sang đổ lỗi và quy kết đó là những vấn đề mang tính bản chất. Và với thiên chức riêng có của mình, ông đã phản ánh những tâm tư, suy nghĩ vào những trang văn, trang thơ của mình thay vì chung tay tái thiết đất nước như nhiều văn nghệ sỹ thế hệ ông từng làm. 

Rời Đà Nẵng lên Lâm Đồng....
Từ Đà Nẵng với cương vị Phó Chủ tịch hội Văn Nghệ tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, Tổng biên tập Tạp chí Ðất Quảng, mùa thu năm 1985 trở thành một mùa thu định mệnh trong sự nghiệp của nhà văn bởi đó là một chuyến đi làm thay đổi hoàn toàn con người của Bùi Minh Quốc. Ông đã là một con người khác, một người ưa phê phán những chuyện đời thường hơn là một người đam mê, khát khao đóng góp cho nền văn học nghệ thuật của nước nhà. Theo lời mời của Bí thư Tỉnh Ủy Lâm Đồng, Bùi Minh Quốc đã bước chân lên đại ngàn Tây Nguyên với sứ mệnh vực dậy và phát triển nền văn học của đại ngàn Tây Nguyên, nơi có hồ Lang Biang với những câu chuyện thần thoại và không kém phần lãng mãn. Đây là một chuyến đi mà nhiều bạn văn, thơ của ông tại Quảng Nam - Đà Nẵng đã cho rằng, ông lên kiếm miền đất để nói lên những điều mình muốn nói và lời mời, đề nghị của vị Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng khi đó đã là một cơ hội không thể tốt hơn để Bùi Minh Quốc có thể tự do bay nhảy, nói tùy thích, sáng tác những chủ đề theo cách cảm, cách nghĩ của ông mà không chịu một chút ràng buộc nào liên quan. "Trong kỳ đại hội thành lập hội Văn Nghệ, ông đựoc bầu vào chức vụ Chủ tịch".
Bùi Minh Quốc (9)
Lên Đà Lạt - Lâm Đồng không lâu, ông đã đề xuất Tỉnh ủy Lâm Đồng cho ra đời tờ báo Lang Biang (lấy tên theo một câu chuyện thần thoại của vùng này. Để có thể mang cái tên này họ đã phải giải trình cho ông Bí thư Tỉnh ủy, nhưng ông này cũng không dám quyết, mà phải mở một cuộc họp để ban Thường Vụ Tỉnh quyết định, và họ đã phải nhờ đến một nhà chuyên nghiên cứu văn hóa sắc tộc để thuyết phục). Và cũng chính Tờ báo này nhà thơ của chúng ta đã thực hiện những điều mình chưa làm được khi còn ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Với những tác phẩm "mang tư tưởng phê phán, điển hình như bài "Cay đắng thay" mà ông cho rằng "Cái guồng máy nhục mạ con người / Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất... / Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt / Lại đúc nên chính cỗ máy này".Bài thơ được tướng Trần Độ trích dẫn trong Nhật ký Rồng Rắn của mình"...và cả những phát ngôn khó hiểu kiểu loạn ngôn của Nhà văn, nhà thơ đối với những vấn đề nhạy cảm, phức tạp của dân tộc. Và nếu ai theo dõi những kỳ Đại hội của Hội nhà văn chắc đã chứng kiến không ít lần nhà thơ Bùi Minh Quốc có một động thái rất khác người "cướp diễn đàn để bày tỏ những chính kiến của mình" với mong muốn truyền bá những tư tưởng phản loạn của chính mình và ý tưởng cho ra đời một tổ chức Hội nhà văn độc lập ("Văn đoàn độc lập") cũng được nảy nở trong giai đoạn này. Tờ báo Lang Biang "bị đóng cửa, phải ngưng xuất bản chỉ sau 03 số báo" và việc không còn giữ cương vị lãnh đạo tại Hội văn học nghệ thuật Lâm Đồng là một hệ quả tất yếu, nếu không nói là hậu quả do chính nhà thơ mang lại. Hiện tại, Bùi Minh Quốc đang cùng với những người bạn tề tựu của mình như Mai Thái Lĩnh, Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, Trần Thế Việt, Nguyễn Quang Nhàn, Diệp Đình Huyên, Hà Sĩ Phu, Đoàn Nhật Hồng đang là chủ nhân của nhiều diễn đàn với những quan điểm bất đồng, cổ súy cho những hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc. 

Mới đây nhất, trong lễ thành lập "Hội nhà báo độc lập Việt Nam" có phải những Phạm Chí Dũng, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Ngọc Thanh có thương hại không hay đang lợi dụng chính uy tín của ông khi bâù bán "người chưa bao giờ làm báo" theo đúng nghĩa vào cương vị "Phó Chủ tịch"? Và cũng như Nhà văn Nguyên Ngọc, Bùi Minh Quốc nên có thời gian để nghỉ ngơi bởi nếu có cố thì cũng chỉ làm xấu đi chính hình ảnh của chính mình./.

Tags:

BÀ TS NGUYỄN THỊ LAN ANH VỚI CÁI GIÀN KHOAN HD981

9 10 999999999
Chèn đánh giá 5 sao vào Blogger 10 9 999999999
Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014 12 nhận xét

                  BÀ TS NGUYỄN THỊ LAN ANH VỚI CÁI GIÀN KHOAN HD981

Kính Chiếu Yêu

Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Anh, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông của Học viện Ngoại giao Việt Nam đã có buổi trả lời phỏng vấn của BBC. Sau khi đưa ra một số nhận định, đánh giá như: “Trung Quốc rút giàn khoan sớm hơn một tháng so với kế hoạch là “vì mưa bão”, vì “giữ thể diện một nước lớn”, vì “nhờ tiếng nói của Việt Nam cũng như dư luận thế giới”. Từ những luận cứ đó bà Lan Anh đã kết luận: “Việt Nam đã thắng lợi về mặt ngoại giao bằng sự kiên trì, tuân thủ luật pháp quốc tế và thiện chí hòa bình”. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì chẳng có gì đáng nói, vì nó đúng.

Điều mà tôi không hiểu và nghi ngờ bà tiến sỹ là ở chỗ cùng dựa trên những chứng lý nói trên, bà đưa ra một nhận định thứ hai làm người ta choáng váng: “Cả hai bên được coi là đã thắng lợi”. Cái lối nói AQ, lưỡng tính đó làm người ta khó chịu. Trung Quốc phải rút lui, dẫu có bị nghi ngờ là tạm thời thì Việt Nam đã thắng lợi bước đầu, còn Trung Quốc thắng lợi ở chỗ nào?

Cái lối nói ỡm ờ đó khiến người ta cũng có thể lờ mờ nhận thấy rằng: hành động đưa dàn khoan HD981 vào khoan thăm dò ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vừa rồi của Trung Quốc là hợp pháp, là đúng chăng? Có đúng thì mới hoàn thành xong nhiệm vụ của nó và như vậy mới có thắng lợi. Sự hoài nghi càng tăng thêm khi ở cuối bài trả lời phỏng vấn bà Lan Anh còn nhấn mạnh: “Nếu mục tiêu như Trung Quốc tuyên bố là thăm dò khảo sát thì coi như là đã đạt được”. Thật vớ vẩn khi mà phát ngôn đó là trả lời BBC của một bà được giới thiệu là “Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông của Học viện Ngoại giao Việt Nam”.

Chưa hết, sự ngớ ngẩn của bà tiến sỹ, phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Biển đông còn thòi lòi ra qua nhận định: “Quan trọng là kết quả và tác động với tình hình hiện nay,” việc rút giàn khoan đã làm “giảm bớt căng thẳng và giữ thể diện cho tất cả các bên”. Việt Nam có là một bên trong đó không hở bà tiến sỹ? Không lẽ cuộc đấu tranh của cả dân tộc cùng với hệ thống chính trị vừa rồi chỉ là sự giả tạo, đớn hèn nên khi giàn khoan nó rút đi thì mới thở phào trước nguy cơ thất bại, mất thể diện!

Phép thắng lợi tinh thần của bà Lan Anh còn được thăng hoa khi nhận định rằng: “thông báo của phía Trung Quốc có nói là ‘chưa có ý định khai thác thương mại’ nên có thể trong tương lai gần Trung Quốc ‘sẽ không có động thái leo thang’ và điều này “sẽ mở đường cho thỏa thuận ổn định hơn cho Biển Đông”. Chưa khai thác không đồng nghĩa với tiếp tục thăm dò phải không thưa bà. Căn cứ vào đâu mà nói rằng Trung Quốc sẽ không trở lại sau mùa mưa bão để cho Biển Đông ổn định. Mất cảnh giác nghiêm trọng.

Tôi đồng ý với ông Carlyle Thayer, Việt Nam với số dân 90 triệu và thực lực kinh tế, quân sự như hiện nay thì chẳng có gì để Trung Quốc ngán ngại khi họ đã quyết làm càn và trên thực tế họ đã làm. Cái chính, đấy là nước cờ họ đi trong cuộc đấu giữa các nước lớn trên bàn cờ Biển Đông mà thôi. Đừng mơ hồ rằng Trung Quốc đã thiếu tính toán, không dự tính được phản ứng của Việt Nam nên mới thất sủng như vậy. Và càng không được tự sướng rằng vụ giàn khoan HD981 vừa rồi “cả hai bên đều thắng”.

Tags:
 
Mõ Làng © 2013 | Designed by tai game mien phi